Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2000–2005, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước với quy mô dân số vượt 6,99 triệu người, chiếm khoảng 7% dân số Việt Nam, mật độ dân cư đạt 2.894 người/km2 và tốc độ tăng trưởng dân số bình quân 3,6%/năm. Sự bùng nổ đô thị hóa cùng làn sóng di dân cơ học mạnh mẽ đã tạo nên nguồn cung lao động dồi dào nhưng đồng thời đặt hạ tầng kinh tế - xã hội vào tình trạng quá tải nghiêm trọng. Mâu thuẫn cốt lõi đặt ra là sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao: có tới 81,5% lực lượng lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, gây nên hiện tượng nghịch lý vừa thừa lao động phổ thông vừa khan hiếm trầm trọng công nhân kỹ thuật bậc cao và cán bộ khoa học đầu ngành.

Trước bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh của tác giả Ngô Thị Thúy Nga tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tập trung giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: đánh giá thực trạng quy mô, cơ cấu và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực giai đoạn 2000–2005; từ đó hoạch định hệ thống biện pháp đồng bộ nhằm thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành của thành phố. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc xây dựng luận cứ khoa học nhằm tái thiết mạng lưới dạy nghề, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 80% và nâng chỉ số phát triển con người (HDI) của thành phố đạt mức 0,85 vào năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hàm sản xuất tân cổ điển, xác định sản lượng đầu ra phụ thuộc mật thiết vào vốn đầu tư, trình độ khoa học công nghệ và nhân tố lao động. Mô hình chỉ rõ việc gia tăng số lượng lao động đơn thuần sẽ gặp quy luật hiệu suất giảm dần, do đó nâng cao chất lượng lao động và hàm lượng tri thức là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Bên cạnh đó, tác giả ứng dụng lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Giáo sư Michael Porter thuộc Đại học Harvard, nhấn mạnh rằng lợi thế cạnh tranh của một nền kinh tế trong thế kỷ XXI không còn nằm ở nguồn tài nguyên thiên nhiên hay nhân công giá rẻ, mà được định đoạt bởi năng suất lao động tổng hợp và năng lực sáng tạo công nghệ.

Về mặt khái niệm, luận văn làm rõ 4 phạm trù nền tảng:

  • Nguồn nhân lực: Tổng thể số lượng và chất lượng thể lực, trí lực, phẩm chất tâm lý của dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động cùng số người ngoài độ tuổi thực tế đang làm việc.
  • Lực lượng lao động: Toàn bộ dân số hoạt động kinh tế từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm.
  • Việc làm hợp lý: Bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ, phản ánh sự tương thích tối ưu giữa năng lực chuyên môn, sở trường cá nhân với yêu cầu kỹ thuật của phương tiện sản xuất, mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất theo tinh thần Điều 13 Bộ Luật Lao động.
  • Thất nghiệp cơ cấu: Tình trạng người lao động mất việc do biến động của quá trình tái cơ cấu kinh tế, khi kỹ năng sẵn có không còn phù hợp với yêu cầu của ngành nghề công nghệ mới.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp quy mô vĩ mô với cỡ mẫu bao quát toàn bộ 2.960.049 người trong độ tuổi lao động trên địa bàn thành phố. Dữ liệu được trích xuất từ nguồn chính thống giai đoạn 2000–2005 gồm Niên giám thống kê, báo cáo của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp chọn mẫu sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kê toàn bộ theo địa giới hành chính (19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành) và phân tầng theo 3 khu vực kinh tế (công nghiệp - xây dựng, dịch vụ - thương mại, nông - lâm nghiệp) cùng các thành phần sở hữu (nhà nước, ngoài nhà nước, có vốn đầu tư nước ngoài). Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả kết hợp phân tích chuỗi thời gian, ngoại suy xu hướng toán học và phân tích kịch bản dự báo có sự hỗ trợ của phần mềm Epi Info 2004. Việc lựa chọn công cụ này giúp kiểm soát sai số nhập liệu, phân tổ dữ liệu đa chiều và xây dựng mô hình dự báo nhân khẩu học - việc làm đạt độ tin cậy cao cho giai đoạn 2005–2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu làm rõ 4 phát hiện quan trọng về thực trạng nguồn nhân lực thành phố:

Thứ nhất, quy mô lao động suy giảm tương đối so với tốc độ gia tăng dân số. Dân số trong độ tuổi lao động giảm 11,68% từ mức 3,530 triệu người năm 1999 xuống còn 2.960.049 người vào cuối năm 2004. Ngược lại, áp lực nhập cư tăng nhanh khi diện tạm trú có thời hạn lên tới hơn 1,676 triệu người, đưa tỷ lệ dân nhập cư chiếm 30,1% tổng dân số thành phố.

Thứ hai, cơ cấu đào tạo biến dạng theo mô hình tháp ngược. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 81,5% toàn thành phố và lên đến 90,1% tại khu vực ngoại thành. Tỷ trọng công nhân kỹ thuật chỉ đạt 8,4%, trung cấp 4,7% và đại học trở lên chiếm 5,4%. Số sinh viên đại học đào tạo hàng năm gấp 5 lần số công nhân kỹ thuật, hoàn toàn lệch pha so với cơ cấu chuẩn của các nước công nghiệp là 1 đại học - 5 trung cấp - 10 công nhân kỹ thuật.

Thứ ba, năng suất lao động tăng trưởng khá nhưng khoảng cách công nghệ còn lớn. Năng suất lao động năm 2004 đạt 53,2 triệu đồng/người/năm, tăng bình quân 7,33%/năm so với mức 32 triệu đồng năm 2000. Tuy vậy, điểm chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,79 trên thang điểm 10, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (6,91 điểm) và Malaysia (5,59 điểm). Tỷ lệ chi phí lao động trên giá trị gia tăng mới ở mức cao 47,38%, làm suy giảm lợi thế cạnh tranh.

Thứ tư, khu vực ngoài nhà nước giữ vai trò chủ lực giải quyết việc làm. Khu vực dân doanh thu hút 81,4% tổng số lao động công nghiệp và tạo việc làm mới cho 189.880 người vào năm 2004, trong khi khu vực nhà nước chỉ chiếm 18,6% tổng số lao động dù đóng góp 42,2% GDP.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng năng suất thấp xuất phát từ sự hạn chế về thể lực và trình độ quản lý. Mức năng lượng dinh dưỡng bình quân của lao động thành phố chỉ đạt 1.700 kcal/ngày, thấp hơn mức chuẩn quốc tế 2.100 kcal/ngày, cùng với tỷ lệ 18,1% trẻ em suy dinh dưỡng. Về năng lực quản trị, 27% giám đốc doanh nghiệp công nghiệp chưa có bằng cấp chuyên môn, tỷ lệ này ở khối doanh nghiệp dân doanh lên tới 37,7%. Thêm vào đó, trang thiết bị công nghệ lạc hậu từ 20 đến 30 năm (điểm trình độ công nghệ chỉ đạt 3,8/10), khiến hàm lượng giá trị công nghệ trong sản phẩm cuối cùng chỉ chiếm từ 10% đến 20%.

Trong công trình, hệ thống dữ liệu thực nghiệm được trực quan hóa thông qua 7 bảng thống kê phân kỳ chi tiết và các mô hình biểu đồ so sánh. Các chuỗi số liệu được thể hiện qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng năng suất lao động giai đoạn 2000–2004 và biểu đồ tròn phân bổ tỷ trọng việc làm giữa 3 khu vực: thương mại - dịch vụ chiếm 52,2%, công nghiệp chiếm 41,7% và nông nghiệp chiếm 6,1%. Cách trình bày này giúp nhận diện rõ ràng điểm nghẽn thiếu hụt thợ bậc cao và năng lực quản trị hạn chế trong các ngành kinh tế trọng điểm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và dự báo kịch bản đến năm 2010, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đổi mới mạng lưới giáo dục và đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức lại hệ thống 79 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trung tâm dạy nghề. Cần chuyển hướng đầu tư mạnh cho đào tạo công nhân kỹ thuật và kỹ thuật viên thực hành, phấn đấu đạt mục tiêu 80% lao động qua đào tạo vào năm 2010 và tái cân bằng cơ cấu đào tạo theo tỷ lệ 1 đại học - 4 trung cấp - 14 công nhân kỹ thuật.
  2. Thiết lập cơ chế liên kết ba nhà giữa Viện trường - Doanh nghiệp - Nhà nước: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành khung pháp lý bắt buộc gắn kết trách nhiệm đào tạo của các trường đại học với nhu cầu tuyển dụng tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, cung cấp trang thiết bị thực hành và tiếp nhận sinh viên thực tập, phấn đấu đưa tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên ngành đạt trên 85% trong giai đoạn 2006–2010.
  3. Cải cách chính sách tiền lương và phân phối thu nhập: Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp cùng các hiệp hội doanh nghiệp áp dụng cơ chế trả lương theo năng suất lao động và giá trị gia tăng thực tế, xóa bỏ triệt để tư duy bình quân. Xây dựng chế độ đãi ngộ đặc thù nhằm thu hút chuyên gia khoa học công nghệ đầu ngành, phấn đấu nâng tốc độ tăng năng suất lao động bình quân đạt trên 8%/năm từ nay đến năm 2010.
  4. Quản lý di dân linh hoạt và chăm sóc thể chất nguồn nhân lực: Sở Y tế cùng các tổ chức xã hội đẩy mạnh chương trình dinh dưỡng học đường và y tế dự phòng, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống dưới 12% vào năm 2010, nâng mức calo bình quân lên 2.000 kcal/người/ngày. Thực hiện phương án quản lý di dân mềm dẻo, duy trì tốc độ tăng cơ học ổn định từ 1,0% đến 1,7%/năm (khoảng 23.000–26.900 người/năm), tạo điều kiện cho lao động nhập cư tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về nhân khẩu học và thị trường lao động, hỗ trợ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội và chính sách điều tiết di dân đô thị.
  • Ban giám hiệu các trường đại học, cao đẳng và cơ sở dạy nghề: Cung cấp cơ sở khoa học để tái định cấu trúc chương trình đào tạo, mở các mã ngành công nghệ mũi nhọn và khắc phục triệt để tình trạng lệch pha cung - cầu lao động.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp và giám đốc nhân sự: Giúp nắm bắt xu hướng dịch chuyển việc làm giữa các thành phần kinh tế, từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng tay nghề nội bộ và tối ưu hóa chi phí nhân công trên năng suất thực tế.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Là tài liệu mẫu mực về phương pháp kết hợp mô hình kinh tế lượng nhân khẩu học, sử dụng phần mềm phân tích thống kê và phương pháp dự báo xu hướng nguồn nhân lực đô thị.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm nghẽn lớn nhất của nguồn nhân lực Thành phố Hồ Chí Minh theo nghiên cứu là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ: 81,5% lực lượng lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, trong khi số sinh viên đại học tốt nghiệp gấp 5 lần công nhân kỹ thuật. Điều này tạo ra nghịch lý thừa thầy thiếu thợ, cản trở trực tiếp tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa sản xuất.

  2. Năng suất lao động của thành phố có khoảng cách thế nào so với các nước trong khu vực? Dù năng suất lao động tăng trưởng 7,33%/năm đạt 53,2 triệu đồng/người/năm vào năm 2004, năng suất lao động của thành phố vẫn còn khoảng cách rất xa so với khu vực: Nhật Bản gấp 124,6 lần, Thái Lan gấp 26,8 lần và chỉ số chất lượng lao động tổng hợp của Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 điểm.

  3. Lực lượng lao động nhập cư tác động ra sao đến nền kinh tế thành phố? Với hơn 1,676 triệu người tạm trú (chiếm 30,1% dân số), lao động nhập cư là nguồn bổ sung quan trọng cho các khu chế xuất và đóng góp tới 38% đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, do phần lớn là lao động phổ thông, hiện tượng này tạo sức ép rất lớn lên hệ thống hạ tầng và dịch vụ xã hội.

  4. Luận văn đề xuất phương án nào để quản lý dòng di dân vào đô thị? Tác giả đề xuất phương án 3: thừa nhận tính quy luật khách quan của thị trường về tự do cư trú và tìm kiếm việc làm, kết hợp các biện pháp quản lý hành chính mềm dẻo và linh hoạt. Phương án này giúp điều tiết mức tăng cơ học hàng năm trong khoảng 1,0%–1,7% mà không gây xáo trộn thị trường lao động.

  5. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trọng tâm của thành phố đến năm 2010 là gì? Mục tiêu trọng tâm bao gồm: nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80%, đưa chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,85, kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp dưới mức 5,5% và nâng cao thể chất với mức dinh dưỡng bình quân trên 2.000 kcal/người/ngày.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng nhân khẩu học và việc làm của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000–2005 với quy mô gần 3 triệu lao động.
  • Chỉ rõ hai nguyên nhân cốt lõi gây suy giảm năng suất lao động: cơ cấu đào tạo hình tháp ngược và công nghệ sản xuất lạc hậu từ 20–30 năm.
  • Xây dựng hệ thống dự báo cung - cầu nhân lực khoa học dựa trên 3 kịch bản di dân đến năm 2010 với sự trợ giúp của phần mềm chuyên dụng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về phân luồng giáo dục nghề nghiệp, cải cách tiền lương và gắn kết đào tạo với thực tiễn sản xuất của doanh nghiệp.
  • Xác lập lộ trình hành động cụ thể nhằm đưa chỉ số HDI đạt 0,85 và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 80% vào năm 2010.

Công trình luận văn của tác giả Ngô Thị Thúy Nga là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị, cung cấp góc nhìn sâu sắc cho việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực bền vững trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.