Phần mở đầu: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chất lƣợng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tƣ và thƣơng mại TNG Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần đầu tƣ và thƣơng mại TNG Kết luận 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh và chất lƣợng nguồn nhân lực 1.1 Cạnh tranh * Khái niệm „„Cạnh tranh‟‟ là thuật ngữ xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong mọi hoạt động kinh doanh. Cạnh tranh là quy luật vận hành của nền kinh tế thị trƣờng. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD cho rằng: “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế‟‟. Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trƣờng (Paul A.
Samuelson, 1948) Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. (Michael Porter, 1980) Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1): “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất‟‟.
Giáo sƣ Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng: “Cạnh tranh trên thƣơng trƣờng phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà là cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình‟‟. Mục tiêu của cạnh tranh là lợi ích, thị phần, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của cá nhân cũng nhƣ tổ chức. Vì thế, sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh tạo 4 z động lực cho nền kinh tế phát triển, sản phẩm dịch vụ tạo ra ngày một nhiều hơn với chất lƣợng cao hơn để đáp ứng nhu cầu tốt hơn. * Vai trò của cạnh tranh Ở góc độ đối với nền kinh tế và lợi ích xã hội, cạnh tranh là hình thức Nhà nƣớc sử dụng để chống độc quyền, ngƣời tiêu dùng có cơ hội lựa chọn những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất để đáp ứng nhu cầu của mình.
Ở góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh là điều kiện để mỗi tổ chức khẳng định vị trí của mình trên thƣơng trƣờng, tự hoàn thiện và chiếm ƣu thế so với đối thủ. Vì thế, việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực kết hợp với ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ sẽ góp phần tạo sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Ở góc độ ngƣời tiêu dùng, thị trƣờng có sự cạnh tranh thì ngƣời tiêu dùng đƣợc hƣởng nhiều lợi ích từ cạnh tranh mang lại: chất lƣợng sản phẩm tốt hơn, giá rẻ hơn,. Đồng thời, ngƣời tiêu dùng cũng là tác nhân với những nhu cầu ngày một đa dạng hơn thì đòi hỏi cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn để chiếm lĩnh thị trƣờng.
Vì thế, cạnh tranh vừa là động lực của sự phát triển, vừa là công cụ hữu hiệu Nhà nƣớc có thể sử dụng để điều tiết mọi hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. * Tính tất yếu của cạnh tranh Sự vận động của nền kinh tế thị trƣờng cùng với sự phát triển sản xuất kinh doanh, khiến cho mọi thành phần kinh tế đều phải tìm cách để tồn tại. Có thể nói cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trƣờng, đồng thời cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tìm giải pháp để nâng cao năng suất lao động, đƣa ra thị trƣờng những sản phẩm có chất lƣợng đáp ứng nhu cầu khác hàng. Vì thế, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ ngày càng mạnh mẽ và khốc liệt hơn.
Với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật đòi hỏi cạnh tranh nhƣ một tất yếu khách quan. Mỗi doanh nghiệp khi tham gia thị trƣờng cần phải tuân theo quy luật cạnh tranh. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, nhu cầu tiêu dùng nâng lên ở mức cao hơn nên để đáp ứng kịp thời các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh. Hơn nữa trong nền kinh tế mở nhƣ hiện nay các đối thủ cạnh tranh không chỉ là các doanh nghiệp trong nƣớc mà còn là các 5 z doanh nghiệp, công ty nƣớc ngoài có vốn đầu tƣ cũng nhƣ trình độ công nghệ cao thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam là một tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển.
Sự sáng tạo của con ngƣời đòi hỏi tính tất yếu của cạnh tranh nhằm đáp ứng những nhu cầu luôn đổi mới không ngừng. Tiến bộ trong nhận thức của tƣ duy con ngƣời về kinh tế xã hội khiến cho việc cạnh tranh trở thành điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển. Bằng tri thức và sự sáng tạo, cạnh tranh giúp cho con ngƣời có thể sử dụng và khai thác nguồn lực một cách hiệu quả.2 Năng lực cạnh tranh * Khái niệm Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì một cách tốt nhất mức lợi nhuận cao và thị phần lớn trong các thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đƣợc đánh giá dựa trên mức chi phí thấp, chi phí sản xuất thấp là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh.
(Van Duren Martin và Wesrtgren, 1991) Theo Michael Porter, khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh là năng suất, trong đó năng suất đƣợc đo bằng giá trị gia tăng do một đơn vị lao động (hay một đơn vị vốn) tạo ra trong một đơn vị thời gian. Mức sống dài hạn đƣợc quyết định bởi yếu tố năng suất. Theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế học định nghĩa: Năng lực cạnh tranh là khả năng giành đƣợc thị phần lớn trƣớc các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp. Có thể thấy, sức cạnh tranh của doanh nghiệp phải đƣợc tạo ra từ năng lực cốt lõi.
Việc phân tích năng lực cốt lõi sẽ chỉ ra đƣợc điểm mạnh, điểm yếu từ đó có thể đánh giá và so sánh với đối thủ cạnh tranh. Khả năng tận dụng nội lực và khai thác những lợi thế từ bên ngoài sẽ giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững. * Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu ảnh hƣởng của các nhân tố đầu vào bao gồm: Vốn, khoa học kỹ thuật và chất lƣợng nguồn nhân lực 6 z Vốn: đƣợc xem là cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tồn tại của một doanh nghiệp về tƣ cách pháp luật. Mỗi một doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển đều cần có vốn.
Vì thế, nguồn vốn là yếu tố quan trọng để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu ảnh hƣởng của nhân tố vốn kinh doanh bởi nếu có một lƣợng vốn tƣơng đối, doanh nghiệp có thể đầu tƣ vào cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, nhà xƣởng, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao động. Trong nền kinh tế thị trƣờng cạnh tranh gay gắt, nếu thiếu vốn sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp, thu nhập thấp, doanh nghiệp sẽ phải thu hẹp quy mô sản xuất và sẽ ngày càng không có sức cạnh tranh do bị tụt lùi vì vòng quay của vốn ngắn lại. Nâng cao năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải biết cách sử dụng và khai thác nguồn vốn một cách hiệu quả.
Khoa học kỹ thuật: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể đƣợc tạo ra nhờ việc đầu tƣ vào vốn khoa học công nghệ. Điều này có khả năng tạo ra năng suất và chất lƣợng cao hơn đối thủ cạnh tranh bởi có thể tạo ra sản phẩm chất lƣợng tốt hơn với chi phí thấp. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao. Khi doanh nghiệp không thể nâng cao năng lực cạnh tranh bằng nguồn vốn tài chính thì lúc này công nghệ trở thành công cụ cạnh tranh then chốt.
Yếu tố công nghệ quyết định sự khác biệt của sản phẩm trên các phƣơng diện: chất lƣợng, thƣơng hiệu và giá cả. Áp dụng đổi mới khoa học kỹ thuật là một yêu cầu mang tính chiến lƣợc. Với những doanh nghiệp có bí quyết công nghệ thì giữ gìn bí quyết là yếu tố quan trọng giúp tăng khả năng cạnh tranh. Chất lƣợng nguồn nhân lực: Bên cạnh nguồn vốn và khoa học công nghệ, suy cho cùng năng lực cạnh tranh đƣợc thực hiện chủ yếu thông qua con ngƣời - nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp.
Để có đƣợc nguồn lao động chất lƣợng cao đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lƣợc đào tạo và phát triển. Để có thể tăng năng suất lao động và tạo điều kiện cho ngƣời lao động sáng tạo đòi hỏi doanh 7 z nghiệp phải xây dựng và thiết lập đƣợc cơ cấu tổ chức đủ linh hoạt, có khả năng thích nghi với sự thay đổi. Việt Nam vốn đã có lợi thế cạnh tranh bởi chi phí lao động rẻ, tuy nhiên năng suất lao động vẫn ở mức thấp, tác phong công nghiệp còn kém. Nếu sớm khắc phục đƣợc tình trạng này để lao động Việt Nam đƣợc đào tạo lành nghề, có năng suất cao thì sẽ thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh so với các nƣớc trong khu vực.
Đặc biệt là lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu, do tính chất ngành sử dụng nhiều lao động nên chất lƣợng nguồn nhân lực ngày càng trở thành vấn đề đƣợc quan tâm. Trong phạm vi đề tài chỉ đi sâu vào phân tích yếu tố chất lƣợng nguồn nhân lực tại cơ sở bởi vai trò và tính cấp thiết của nó.