CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý thuyết Với mục tiêu đặt ra, cơ sở lý thuyết chủ yếu của đề tài bao gồm lý thuyết nền và các nghiên cứu liên quan: (1) Lý thuyết về chiến lược khu vực công, (2) lý thuyết về quản trị kết quả và một số lý thuyết khác có liên quan.1 Lý thuyết về chiến lược khu vực công 1.1 Khái niệm Theo Nguyễn Hữu Lam (2015), chiến lược là một kế hoạch rộng lớn, định hướng tương lai để tương tác với môi trường qua đó đạt tới các mục tiêu và tạo một khuôn khổ cho các quyết định quản lý. Khi các nhà lãnh đạo và tổ chức cam kết vào một tầm nhìn cụ thể về cách thức tổ chức sẽ vận hành để tạo ra giá trị và để tổ chức tự đứng vững trong tương lai gần nhất (Andrews (1971); Barnard (1966) được trích theo Moore, 1995). Chiến lược phải bao gồm các nguyên tắc cấu thành từ một tầm nhìn trọng yếu về giá trị mà tổ chức dự định tạo ra (Moore, 1995).1: Khái niệm cơ bản của chiến lược Nội dung Khu vực công Khu vực tư nhân Gia tăng sự thịnh vượng của Mục tiêu chuẩn tắc Đạt được sứ mạng xã hội tổ chức Các khoản đóng góp hảo tâm Doanh thu từ bán sản phẩm Nguồn thu chủ yếu hay các nguồn thu thuế hay dịch vụ Đo lường kết quả hoạt Hiệu quả và hiệu suất trong việc Ngưỡng thấp nhất về tài chính động đạt đến sứ mạng hay giá trị cổ phiếu tăng Tìm và khai thác năng lực Tìm ra những phương thức tốt Sự cân nhắc chủ yếu phân biệt bằng cách định vị nhất để đạt được sứ mạng nó trong thị trường Nguồn: Mark H.Moore (1995) Theo Moore (1995), thì những mô hình chiến lược được phát triển tốt nhất đến từ khu vực tư nhân, tuy nhiên, chiến lược phát triển của các tổ chức thuộc chính phủ yêu cầu phải đảm bảo ba vấn đề then chốt đó là: giá trị công được tạo ra, các nguồn tài chính hợp pháp và sự ủng hộ, năng lực điều hành để tạo ra giá trị.1 cho thấy, chiến lược khu 5 vực công với mục tiêu là làm sao đạt được sứ mạng xã hội của mình, dựa trên các khoản thu thuế hoặc đóng góp hảo tâm với những hoạt động hiệu quả để tìm ra những phương pháp tốt nhất để đạt được sứ mạng của chính tổ chức ấy. Nói cách khác, chiến lược khu vực công và chiến lược khu vực tư nhân có những điểm khác biệt chủ yếu trong việc hình thành chiến lược, mặc dù giữa khu vực công và khu vực tư đều tạo ra các giá trị, cho dù về mặt tài chính của nó, nguồn thu về từ đâu đi chăng nữa, thì cuối cùng, tổ chức đó phải đạt được mục đích, sứ mạng hay tầm nhìn của chính tổ chức ấy.2 Tầm quan trọng của chiến lược khu vực công Cũng theo Moore (1995), chiến lược trong khu vực công bắt đầu với sứ mạng của tổ chức.
Sứ mạng của một tổ chức trong khu vực công định nghĩa giá trị mà tổ chức dự định tạo ra cho những nhân vật hữu quan của mình và cho xã hội nói chung. Vì thế, nó chiếm giữ một vị trí quan trọng trong các tổ chức phi lợi nhuận và chính phủ. Bởi vì sứ mạng định nghĩa giá trị của tổ chức đối với xã hội và tạo ra mục đích của tổ chức, nó trở thành thước đo được sử dụng trong việc phán xét thành quả hoạt động quá khứ và trong việc đánh giá các phương hướng hành động tương lai. Các sứ mạng của các tổ chức trong khu vực công quan trọng hơn vấn đề tài chính (Bryce, 1992).
Bản tuyên bố sứ mạng chỉ ra những vấn đề công đặc biệt mà tổ chức theo đuổi. Nếu như các tổ chức khu vực công sử dụng mô hình chiến lược công ty thì các tổ chức này sẽ gặp khó khăn hay không? Câu trả lời là không có khó khăn (Moore,1995). Tuy nhiên, mô hình tam giác chiến lược được phát triển bởi Trường Kennedy đã cung cấp cho khu vực công một khung chiến lược vận hành, giúp tổ chức công định hướng chính họ đối với công việc mà họ phải thực hiện. Mô hình này không những tập trung hướng lên người giám sát và uỷ quyền cho các hoạt động của họ, hướng ra các mục đích cần đạt được và giá trị cần được tạo ra, hướng xuống và hướng vào việc quản lý tổ chức của họ.
6 Tính hợp pháp Giá trị Năng lực vận hành Hình 1.1 Mô hình tam giác chiến lược Nguồn: trường Kennydy; Moore (1995) Khung phân tích này sắp đặt việc quản lý chính trị cũng quan trọng đối với các nhà quản lý công tương tự như việc quản lý tổ chức (Heymann, 1987), và tam giác chiến lược này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét và thử nghiệm lời tuyên bố giá trị mà thách thức các hoạt động của họ (Moore,1995). Chiến lược khu vực công theo mô hình tam giác với những yếu tố sau: Yếu tố giá trị: Hướng sự tập trung quản lý đến tuyên bố giá trị để dẫn dắt tổ chức. Để một tổ chức thành công trong việc tạo ra giá trị, những người lãnh đạo của tổ chức phải có một tuyên bố về giá trị hay các mục đích mà tổ chức đang theo đuổi. Yếu tố tính hợp pháp và sự ủng hộ: Hướng sự tập trung quản lý vào câu hỏi sự ủng hộ cho việc theo đuổi giá trị sẽ đến từ đâu.
Trong một tổ chức công, sự ủng hộ đến từ người dân, những đại biểu được bầu, các nhóm lợi ích, phương tiện truyền thông (Heymann, 1987). Yếu tố năng lực vận hành: Tập trung sự chú ý vào câu hỏi liệu rằng kiến thức, kỹ năng thực hành và khả năng hiện hữu của tổ chức có đủ để đạt được các kết quả mong đợi không. Thông thường, năng lực này nằm hoàn toàn bên trong tổ chức mà nhà quản lý dẫn dắt. Tuy nhiên, đôi khi nó nằm bên ngoài ranh giới của tổ chức và tổ chức phải tìm ra cách thức để kết nối các khả năng này để đạt được kết quả mong muốn.
Tóm lại, chiến lược tổ chức có vai trò quan trọng trong việc vận hành, quyết định sự thành công của chính tổ chức ấy.3 Các thành phần của Kế hoạch chiến lược hiệu quả Theo Richard A. Mittenthal (2002), các kế hoạch chiến lược là những hồ sơ toàn diện mà chúng bao trùm tất cả các phương diện công việc của tổ chức, bao gồm các chương trình, các dịch vụ, quản lý các hoạt động, cơ sở vật chất và quản trị. Một chiến lược tốt bao gồm các yếu tố sau: Thứ nhất là tuyên bố sứ mạng, một diễn đạt ngắn gọn về mục đích của tổ chức. Nó trả lời câu hỏi: “Tại sao chúng ta tồn tại? và “ Tại cấp độ cơ bản nhất, chúng ta làm gì?” Thứ hai là tuyên bố tầm nhìn, một mô tả về tình trạng tương lai được mong đợi của tổ chức.
Nó dự báo tương lai trên phương diện của chương trình, ngân sách hoặc quy mô tổ chức, trả lời cho câu hỏi “Chúng ta muốn đến đâu? Hay “Tác động của công việc chúng ta là gì?” Thứ ba là tuyên bố giá trị, các nguyên tắc dựa trên việc tổ chức được xây dựng và chỉ dẫn việc hoạch định, các hoạt động và các chương trình. Giúp chúng ta trả lời câu hỏi “Chúng ta tin vào điều gì?” Thứ tư là các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, được thể hiện dưới kết cục được mong đợi và được tập trung vào các thành phần riêng biệt của tổ chức hay các hoạt động nội bộ của chính tổ chức ấy. Tiến độ trong việc đạt tới các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn cần được đo lường, để trả lời cho câu hỏi “Chúng ta muốn hoàn tất những gì?” Thứ năm là các chiến lược, chiến thuật để có thể tiếp cận hoặc tập hợp các hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, để trả lời câu hỏi “Bằng cách nào chúng ta thực sự hoàn tất công việc của chúng ta?” Cuối cùng là Kế hoạch thực hiện sẽ chỉ dẫn cho tổ chức về chi phí, thời gian, thứ tự ưu tiên và trách nhiệm đối với mỗi chiến lược đã được đề ra, giúp tổ chức trả lời câu hỏi “Các ưu tiên cụ thể của chúng ta là gì?” và “Bằng cách nào chúng ta có thể thực hiện kế hoạch của chúng ta theo cách thức hợp lý và khả thi?” Sứ mạng tổ chức Tổ chức công ra đời mang một sứ mạng, sứ mạng là một bản tuyên bố trả lời cho câu hỏi: Tại sao tổ chức lại tồn tại? Mục đích lâu dài của tổ chức là gì? Tổ chức làm gì để tồn tại và phát triển? Sứ mạng của tổ chức được tuyên bố một cách rõ ràng là căn cứ hết sức quan trọng để thiết lập chiến lược của tổ chức. 8 Theo Jonker và William (2014), Tuyên bố sứ mạng là điều mà nó sẽ thực hiện công việc, biến tầm nhìn trở thành hiện thực, hay nói cách khác, sứ mạng là phần thực hiện để tổ chức đạt đến tầm nhìn đã tuyên bố.
Một tuyên bố sứ mạng rõ ràng và tập trung phục vụ cho các quyết định về các chương trình hành động hay phương hướng hoạt động của tổ chức khu vực công phải đề ra. Tất cả chúng ta vì sự lãnh đạo; tất cả chúng ta vì sự hợp tác; tất cả chúng ta vì sự tuyệt hảo; vì vậy, nếu bạn tin rằng một giá trị nào đó giúp xác định tổ chức của bạn, thì hãy đặt nó trong tuyên bố sứ mạng của mình, hay sứ mạng tổ chức công vô cùng quan trọng, một tổ chức cũng thối rữa từ sứ mạng của nó. Chính vì vậy, sứ mạng sẽ cho phép tổ chức đặt ra ba câu hỏi quan trọng: (1) Đây có phải là cách tốt nhất để đạt được điều đó? (2) Có điều gì khác nữa mà chúng ta nên thực hiện để tiến bộ nhanh hơn trên con đường của chúng ta? (3) Tất cả mọi thứ chúng ta đang thực hiện có thực sự tập trung vào điều đó? Có được một sứ mạng đúng đắn là bước đầu tiên để đi tới những chỉ bảo đúng đắn (Hellweg, 2010). Sứ mạng của tổ chức tuân theo quy luật “Động từ, đối tượng, kết cục” (Hellweg, 2010) và phải được tuyên bố ngắn gọn, xúc tích, có thể tuyên bố sứ mạng trong tám từ (Helleweg, 2010; Starr, 2012).
Tầm nhìn tổ chức Theo Blanchard & Stoner (2004), tất cả các tổ chức hàng đầu trên thế giới được dẫn dắt bởi ba yếu tố cực kỳ quan trọng: (1) Một tầm nhìn và phương hướng rõ ràng được theo đuổi.