Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN CHIẾN LƯỢC VÀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH, VÙNG 1. Khái niệm về chiến lược. Khái niệm về chiến lược. Xét về nguồn gốc từ ngữ, từ chiến lược (strategy) xuất phát từ chữ strategos trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Vị tướng”.
Từ này ban đầu được sử dụng trong quân đội với nghĩa giản đơn là để chỉ vai trò chỉ huy, lãnh đạo của các tướng lĩnh; sau dần được phát triển, mở rộng với nghĩa là để chỉ khoa học và nghệ thuật chỉ huy quân đội, chỉ những cách hành động để chiến thắng quân thù. Ngày nay, thuật ngữ chiến lược được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh và trong cuộc sống. Sau đây là một số khái niệm cơ bản: - Theo Alfred Chandler: “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”.Glueck: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện”. Thompson: “Chiến lược là sự kết hợp các nguồn lực, môi trường và các giá trị cần đạt được”.
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể định nghĩa: Chiến lược là tập hợp các mục tiêu cơ bản dài hạn, được xác định phù hợp với tầm nhìn, sứ mạng của quốc gia, địa phương, đơn vị và các cách thức, phương tiện để đạt được những mục tiêu đó một cách tốt nhất, sao cho phát huy những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của chính mình và đón nhận được các cơ hội, né tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại do những nguy cơ từ môi trường bên ngoài. Lợi ích của chiến lược. 13 Hiện nay, thế giới đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, cách mạng khoa học kỹ thuật tiến nhanh như vũ bão, môi trường chính trị và môi trường kinh doanh thường xuyên biến động và phức tạp. Trong điều kiện đó, tất nhiên sẽ có nhiều vấn đề mới nảy sinh và thay đổi khó lường.
Để có thể tồn tại và phát triển bền vững, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi tổ chức nhất thiết phải xây dựng cho mình một chiến lược phù hợp, dựa trên việc xác định được tầm nhìn, sứ mạng, hướng đi, đích đến, cùng hệ thống mục tiêu chiến lược, các chính sách và giải pháp để thực hiện đạt mục tiêu, nhằm chiến thắng đối thủ cạnh tranh và khẳng định được vị trí xứng đáng của mình trong xã hội, khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy, chiến lược sẽ giúp một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một tổ chức thấy được mục đích, hướng đi để lựa chọn phương hướng nhằm đạt được mục tiêu của mình và giữ vững sự ổn định, phát triển. Giúp phân tích môi trường bên ngoài để nhận diện được cơ hội và nguy cơ, phân tích môi trường bên trong để xác định được điểm mạnh và điểm yếu, trên cơ sở đó tiến hành kết hợp để tìm ra các chiến lược, với những giải pháp phù hợp giúp phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, nắm bắt cơ hội và vượt qua nguy cơ. Các cấp và các loại chiến lược.
Các cấp và các loại chiến lược trong công ty. Chiến lược của công ty là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của công ty và thực hiện chương trình hành động, cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu xác định và duy trì sự phát triển. Trong công ty có các cấp và các loại chiến lược sau đây: - Các cấp chiến lược: chiến lược trong công ty có 4 cấp gồm: + Chiến lược cấp công ty: là chiến lược hướng tới mục tiêu cơ bản dài hạn trong phạm vi của cả công ty. + Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (gọi tắt là chiến lược kinh doanh): là chiến lược liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể.
14 + Chiến lược cấp chức năng (còn gọi là chiến lược hoạt động): là chiến lược của các bộ phận chức năng (marketing, dịch vụ khách hàng, phát triển sản xuất, logistics, tài chính…). + Chiến lược toàn cầu: để thâm nhập và cạnh tranh trong môi trường toàn cầu, các công ty sử dụng các chiến lược như: chiến lược đa quốc gia, chiến lược quốc tế, chiến lược xuyên quốc gia… - Các loại chiến lược: Theo quan điểm của Fred R. David, có 14 loại chiến lược, được chia thành 4 nhóm: + Nhóm chiến lược kết hợp (3 chiến lược): kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau và kết hợp theo chiều ngang. + Nhóm chiến lược chuyên sâu (3 chiến lược): thâm nhập thị trường, phát triển thị trường và phát triển sản phẩm.
+ Nhóm chiến lược mở rộng hoạt động (3 chiến lược): đa dạng hóa hoạt động đồng tâm, đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang và đa dạng hóa hoạt động kiểu kết khối. + Nhóm chiến lược khác (5 chiến lược): liên doanh, thu hẹp bớt hoạt động, cắt bỏ bớt hoạt động, thanh lý và chiến lược hỗn hợp. Do đề tài tập trung vào xây dựng phát triển kinh tế ngành, vùng của cơ quan quản lý Nhà nước nên tác giả xin phép không đi sâu vào nội dung này. Các cấp và các loại chiến lược của cơ quan quản lý Nhà nước.
Chiến lược của cơ quan quản lý Nhà nước là việc xác định những mục tiêu dài hạn của một quốc gia, một vùng lãnh thổ hoặc một ngành thuộc thẩm quyền quản lý và định hướng những nhiệm vụ, giải pháp, cũng như phân bổ các nguồn lực hợp lý để thực hiện đạt được các mục tiêu đó. Việc xây dựng chiến lược nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng, quản lý tốt các mối quan hệ xã hội và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, ổn định quốc phòng - an ninh trên địa bàn. Chiến lược của cơ quan quản lý Nhà nước gồm các cấp và các loại sau: 15 - Các cấp chiến lược: chiến lược của cơ quan quản lý Nhà nước được phân cấp theo cấp của cơ quan quản lý Nhà nước, nghĩa là gồm 4 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh (thành phố), cấp huyện (quận, thị xã) và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn). - Các loại chiến lược: chiến lược của cơ quan quản lý Nhà nước gồm các loại: + Chiến lược phát triển tổng thể: chiến lược phát triển tổng thể được hiểu là chiến lược chung, toàn diện và lâu dài nhằm phát triển trên tất cả các lĩnh vực (kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh,.
Chiến lược tổng thể có ý nghĩa rất quan trọng, là định hướng để xây dựng các chiến lược chi tiết phát triển từng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ. + Chiến lược phát triển từng ngành, vùng: chiến lược phát triển từng ngành, từng vùng lãnh thổ là chiến lược chi tiết, nhằm cụ thể hóa thực hiện chiến lược phát triển tổng thể trong một ngành, lĩnh vực hoặc trên một quy mô lãnh thổ nhất định (vùng, tỉnh, huyện,…). Chiến lược phát triển ngành, vùng, như: chiến lược phát triển lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long, chiến lược phát triển kinh tế biển (các ngành liên quan đến biển và vùng ven biển), chiến lược phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chiến lược phát triển du lịch, chiến lược phát triển thủy sản, chiến lược ổn định và phát triển trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh… Khái niệm kinh tế biển trong luận văn được hiểu là kinh tế thuần biển và kinh tế vùng ven biển của tỉnh Bến Tre. Kinh tế thuần biển gồm có các ngành như: khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản, khai thác dầu khí, hàng hải, đóng tàu biển, diêm nghiệp,…; kinh tế vùng ven biển của tỉnh Bến Tre, gồm 03 huyện: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú.
Do đó, chiến lược phát triển kinh tế biển của tỉnh trong luận văn này là chiến lược được xác định trong phạm vi: kinh tế thuần biển và kinh tế của 03 huyện biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển ngành, vùng. Đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài của tỉnh. Môi trường bên ngoài của tỉnh là hệ thống các yếu tố khá phức tạp mà cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh không kiểm soát được hoặc khả năng kiểm soát rất hạn 16 chế, nhưng chúng ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh của tỉnh.
Việc đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài của tỉnh nhằm phát hiện những nhân tố quan trọng, ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với tỉnh, từ đó giúp cơ quan quản lý nhà nước ứng phó linh hoạt và kịp thời với các tình huống phát sinh. Sơ đồ các yếu tố môi trường bên ngoài của tỉnh Môi trường vĩ mô Môi trường vi mô Ảnh hưởng kinh tế. Thị trường cung Ảnh hưởng chính trị ứng (đầu vào). và luật pháp.
Thị trường tiêu thụ. CÁC CƠ HỘI VÀ MỐI 3. Ảnhhưởng tự Các đối thủ cạnh NGUYCƠ nhiên, xã hội và tranh. ĐỐIVỚI nhân khẩu.
đối thủ mới 4. Ảnh hưởng công tiềm ẩn. Sản phẩm thay thế. Có thể phân chia các yếu tố môi trường bên ngoài tác động đến tỉnh Bến Tre làm hai nhóm đó là: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vĩ mô. Môi trường vĩ mô gồm: các yếu tố về kinh tế, chính trị - luật pháp, tự nhiên - xã hội - nhân khẩu, công nghệ. Các yếu tố này ở môi trường bên ngoài tỉnh, nhưng có ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh. Khả năng ứng phó của tỉnh đối với nhóm nhân tố này thấp, vì vậy tỉnh cần linh hoạt thay đổi chính sách và giải pháp khi các yếu tố vĩ mô này thay đổi.
Cụ thể từng yếu tố như sau: - Các yếu tố về kinh tế: Các yếu tố này cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về sức khỏe của nền kinh tế. Có 4 yếu tố quan trọng cần xem xét gồm: + Sự tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế: giúp xác định được các vấn đề về chi tiêu, quy mô sản xuất, cạnh tranh. 17 + Mức lãi suất: có thể tác động đến nhu cầu chi tiêu của người dân. + Tỷ giá hối đoái: xác định giá trị đồng tiền của các quốc gia với nhau.
Sự thay đổi tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến tình hình đầu tư và xuất khẩu hàng hóa. + Lạm phát: sẽ làm giảm tính ổn định của nền kinh tế.