Tổng quan nghiên cứu
Kinh tế biển đóng vai trò đòn bẩy chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài 3.260 km cùng hơn 1 triệu km² vùng đặc quyền kinh tế, trong đó khu vực biển và ven biển đóng góp tới 47% GDP cả nước. Nằm trong mạng lưới 28 tỉnh, thành phố ven biển, tỉnh Bến Tre giữ vị trí địa kinh tế đặc biệt với hơn 65 km bờ biển, gần 20.000 km² vùng đặc quyền kinh tế và là nơi hội tụ của 4 cửa sông lớn thuộc hệ thống sông Cửu Long gồm sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cổ Chiên.
Mặc dù có nguồn tài nguyên phù sa trù phú và hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng, việc khai thác kinh tế biển tại địa phương giai đoạn 2001 - 2011 vẫn mang tính tự phát, phân tán và hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng. Tỷ trọng đóng góp của kinh tế thuần biển vào tổng sản phẩm nội địa toàn tỉnh năm 2011 mới đạt khoảng 17%, chưa thực sự tạo bứt phá để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Đảng bộ tỉnh.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh của tác giả Phạm Hữu Dự, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thanh Hà tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (năm 2012), tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Phân tích toàn diện thực trạng, đánh giá lợi thế so sánh và các yếu tố môi trường tác động đến kinh tế biển Bến Tre từ năm 2001 đến năm 2011, từ đó xây dựng hệ thống chiến lược và lộ trình giải pháp khả thi giai đoạn 2012 - 2020. Nghiên cứu giới hạn không gian tại 3 huyện ven biển trọng điểm là Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú và tập trung vào các phân ngành kinh tế thuần biển gồm khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản, diêm nghiệp và du lịch sinh thái biển. Công trình đặt mục tiêu thúc đẩy kinh tế biển đóng góp 30% GDP toàn tỉnh vào năm 2020, tạo động lực nâng cao thu nhập bình quân đầu người từ mức 23,7 triệu đồng năm 2011 lên khoảng 3.300 USD vào năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng nền tảng lý thuyết quản trị chiến lược hiện đại của Alfred Chandler, Glueck và đặc biệt là quy trình hoạch định chiến lược 3 giai đoạn của Fred R. David. Quy trình này cung cấp công cụ tích hợp giúp chuyển đổi các dữ liệu phân tích vĩ mô và vi mô thành các quyết định chiến lược có tính định lượng cao.
Giai đoạn nhập vào sử dụng Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) nhằm đo lường mức độ phản ứng của tỉnh trước các cơ hội và nguy cơ vĩ mô; Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu nội tại với thang điểm chuẩn hóa từ 1,0 đến 4,0 (điểm trung bình là 2,5); và Ma trận hình ảnh cạnh tranh (CPM) so sánh tương quan năng lực kinh tế biển của Bến Tre với các tỉnh ven biển lân cận. Giai đoạn kết hợp vận dụng Ma trận SWOT để thiết lập 4 nhóm chiến lược căn bản: S-O (tận dụng điểm mạnh để đón đầu cơ hội), S-T (phát huy sức mạnh nội tại để giảm thiểu nguy cơ), W-O (khắc phục điểm yếu để nắm bắt cơ hội), và W-T (hạn chế tối đa điểm yếu và phòng ngừa rủi ro). Giai đoạn quyết định sử dụng Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM) để chấm điểm mức độ hấp dẫn (thang điểm từ 1 đến 4) và chọn lọc chiến lược tối ưu nhất.
Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm then chốt gồm: Kinh tế thuần biển (các hoạt động khai thác trực tiếp tài nguyên biển như đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, vận tải biển, làm muối), Kinh tế vùng ven biển (không gian kinh tế - xã hội tại 3 huyện ven bờ), và Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) như một thước đo chất lượng điều hành kinh tế địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng dữ liệu thứ cấp, triển khai từ năm 2011 đến năm 2012. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao quát chuỗi thời gian 11 năm (2001 - 2011), được trích xuất từ Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, các báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và các dữ liệu tài chính công.
Để đảm bảo tính khách quan trong việc xác định trọng số cho các ma trận EFE, IFE và QSPM, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích (purposive sampling) với cỡ mẫu gồm 35 chuyên gia và nhà quản lý. Mẫu khảo sát bao gồm đại diện lãnh đạo Văn phòng Tỉnh ủy, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng lãnh đạo chủ chốt của 3 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm chuẩn hóa và lượng hóa các đánh giá chuyên gia có chiều sâu thực tiễn, giúp khắc phục tính chủ quan và đảm bảo tính thích ứng cao nhất cho các quyết sách chiến lược trong quản lý nhà nước cấp địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh kinh tế biển của tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2001 - 2011 qua những phát hiện định lượng then chốt:
Thứ nhất, ngành thủy sản duy trì tốc độ phát triển cao và trở thành trụ cột sản xuất chính. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2011 đạt 43.073 ha với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,2%/năm, sản lượng nuôi đạt 195.495 tấn. Tổng số tàu thuyền khai thác tăng bình quân 5,7%/năm, đạt 5.337 chiếc vào năm 2011 với tổng công suất 681.405 CV (bình quân 127,7 CV/tàu), trong đó có 1.732 tàu đánh bắt xa bờ. Tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh đạt 330.100 tấn năm 2011, đưa Bến Tre lên vị trí thứ 3 trong số 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế và hoạt động ngoại thương có sự chuyển biến mạnh mẽ. Tỷ trọng khu vực nông - lâm - thủy sản trong GDP toàn tỉnh giảm từ 66,7% năm 2001 xuống 50,8% năm 2011, trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 12,8% lên 16,6% và khu vực dịch vụ tăng từ 20,5% lên 32,6%. Kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh tăng trưởng vượt bậc từ 40 triệu USD năm 2001 lên 367,87 triệu USD năm 2011 (tăng bình quân 74%/năm), trong đó các mặt hàng kinh tế biển chiếm khoảng 22% tổng giá trị xuất khẩu. Toàn bộ kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp 38% vào tổng GDP toàn tỉnh.
Thứ ba, hạ tầng dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp ven biển phát triển nhanh nhưng quy mô còn hạn chế. Đến cuối năm 2011, vùng ven bờ có 3.341 cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, chiếm 44% tổng số cơ sở sản xuất toàn tỉnh, nhưng 100% đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực ngoài nhà nước. Hoạt động du lịch ghi nhận 743.401 lượt khách đến Bến Tre năm 2011 (trong đó 104.530 lượt khách quốc tế), với khoảng 30% lượng khách tập trung về các khu di tích lịch sử và bãi biển sinh thái tại 3 huyện ven biển.
Thứ tư, nghiên cứu nhận diện rõ nét thách thức từ biến đổi khí hậu. Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng gần 1°C và mực nước biển dâng thêm 20 cm. Bến Tre nằm trong nhóm các địa phương chịu rủi ro nặng nề nhất về xâm nhập mặn sâu và triều cường, đe dọa trực tiếp 4.147 ha rừng ngập mặn phòng hộ và vùng nuôi trồng nước ngọt, lợ nội địa.
Thảo luận kết quả
Các kết quả nghiên cứu phản ánh bước chuyển dịch quan trọng từ mô hình sản xuất truyền thống sang thâm canh công nghệ cao. Việc ứng dụng hệ thống quạt nước tạo oxy và chế phẩm sinh học xử lý môi trường đã giúp mô hình nuôi thủy sản công nghiệp và bán công nghiệp đạt năng suất gấp 5 đến 7 lần so với hình thức nuôi tự nhiên.
Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua Bảng so sánh chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) và Biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu GDP giai đoạn 2001 - 2011. Khi đặt Bến Tre lên bàn cân so sánh với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp tại Đồng bằng sông Cửu Long như Cà Mau (sản lượng thủy sản trên 600.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu gần 1 tỷ USD) và Bạc Liêu (sản lượng khoảng 550.000 tấn), điểm nghẽn lớn nhất của Bến Tre nằm ở quy mô vốn đầu tư của doanh nghiệp chế biến còn nhỏ lẻ, công nghệ bảo quản sau thu hoạch chưa đồng bộ và thương hiệu xuất khẩu chưa tạo được sức ép lớn trên thị trường quốc tế. Mặc dù tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011 đạt 9.791,4 tỷ đồng (tăng 13,2%/năm), nguồn lực dành riêng cho hạ tầng logistic biển, cảng cá nước sâu và các trung tâm kiểm định chất lượng thủy hải sản vẫn còn thiếu hụt nghiêm trọng.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả ma trận QSPM, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược trọng tâm nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế biển Bến Tre đến năm 2020:
-
Hiện đại hóa năng lực đánh bắt xa bờ và chuyển đổi cơ cấu nuôi trồng thủy sản công nghệ cao:
- Cơ quan thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú.
- Hành động: Thực hiện Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg về hỗ trợ nhiên liệu và đóng mới tàu thuyền; nâng tỷ lệ tàu đánh bắt xa bờ có công suất trên 90 CV lên hơn 45% tổng số phương tiện; ứng dụng công nghệ viễn thông vệ tinh định vị luồng cá; quy hoạch 43.000 ha mặt nước nuôi trồng theo tiêu chuẩn VietGAP/GlobalGAP.
- Chỉ số mục tiêu: Nâng tổng sản lượng thủy sản đạt trên 400.000 tấn vào năm 2020, giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 10%.
- Lộ trình: Giai đoạn 2012 - 2016 tập trung nâng cấp trang thiết bị định vị và bảo quản lạnh; giai đoạn 2016 - 2020 mở rộng vùng nuôi công nghiệp.
-
Tái cấu trúc chuỗi giá trị công nghiệp chế biến và xúc tiến thương mại xuất khẩu:
- Cơ quan thực hiện: Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bến Tre.
- Hành động: Thu hút nguồn vốn FDI và tư nhân đầu tư các nhà máy chế biến sâu các sản phẩm tôm đông lạnh, nghêu, cá tra tại Cụm công nghiệp Giao Long và cụm công nghiệp ven biển; đổi mới dây chuyền cấp đông nhanh để thâm nhập các thị trường tiêu chuẩn cao như Nhật Bản, EU và Mỹ.
- Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến tinh đạt trên 60% tổng sản lượng xuất khẩu; đưa kim ngạch xuất khẩu hàng hải sản vượt mốc 500 triệu USD vào năm 2020.
- Lộ trình: Triển khai liên tục từ năm 2013 đến năm 2020.
-
Nâng cấp đồng bộ hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và hệ thống logistic nghề cá:
- Cơ quan thực hiện: Sở Giao thông Vận tải và Sở Kế hoạch và Đầu tư.
- Hành động: Đẩy nhanh tiến độ thi công cầu Cổ Chiên nhằm kết nối Bến Tre với Trà Vinh và các tỉnh Duyên hải Đông bằng sông Cửu Long; mở rộng 2 cảng sông Giao Long và Hàm Luông; nâng cấp 3 cảng cá Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá hiện đại; hoàn thiện hệ thống đê biển kết hợp phân bố lại dân cư ven bờ.
- Chỉ số mục tiêu: Đạt mật độ đường ô tô 1,2 km/km² vào năm 2020; đảm bảo 100% tàu xa bờ cập cảng bốc dỡ thuận lợi.
- Lộ trình: Hoàn thành các hạng mục kết nối then chốt trước năm 2017.
-
Đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao và củng cố hàng rào sinh thái thích ứng biến đổi khí hậu:
- Cơ quan thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội kết hợp Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Hành động: Liên kết đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng và kỹ thuật viên chế biến tại các trường đại học hàng hải; xúc tiến dự án nâng cấp trường chuyên nghiệp địa phương; trồng mới và bảo vệ nghiêm ngặt 4.147 ha rừng ngập mặn phòng hộ chống xói lở; kiểm soát chặt chẽ nước thải từ 3.341 cơ sở sản xuất ven bờ.
- Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh lên 50% năm 2015 và đạt 66% vào năm 2020; độ che phủ rừng duy trì ổn định.
- Lộ trình: Thực hiện thường niên trong suốt kỳ chiến lược 2012 - 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tham mưu chính sách địa phương:
- Đối tượng: Cán bộ lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre và lãnh đạo 3 huyện ven biển.
- Lợi ích & Use Case: Cung cấp khung luận cứ khoa học, hệ thống chỉ số kinh tế xã hội và bộ công cụ ma trận định lượng để xây dựng quy hoạch kinh tế ngành, đề án phát triển kinh tế biển và phân bổ ngân sách đầu tư công trung hạn.
-
Doanh nghiệp nuôi trồng, chế biến thủy hải sản và nhà đầu tư hạ tầng:
- Đối tượng: Các hiệp hội thủy sản, ban giám đốc các công ty chế biến xuất khẩu, các nhà đầu tư phát triển du lịch sinh thái và khu công nghiệp.
- Lợi ích & Use Case: Tham khảo dữ liệu thị trường tiêu thụ (Nhật Bản chiếm 22%, Trung Quốc 25%), đánh giá điểm mạnh - điểm yếu của chuỗi cung ứng nguyên liệu để hoạch định chiến lược kinh doanh và đầu tư công nghệ chế biến tinh.
-
Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học:
- Đối tượng: Các nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Phát triển, Kinh tế Nông nghiệp tại các trường đại học và viện nghiên cứu kinh tế.
- Lợi ích & Use Case: Sử dụng như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp áp dụng kết hợp chuỗi ma trận EFE, IFE, SWOT, CPM và QSPM trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế cấp vùng và địa phương.
-
Tổ chức phát triển và các đơn vị nghiên cứu môi trường, biến đổi khí hậu:
- Đối tượng: Các tổ chức phi chính phủ, chuyên gia phát triển bền vững và đơn vị tư vấn quản lý tài nguyên duyên hải.
- Lợi ích & Use Case: Khai thác số liệu về hiện trạng rừng phòng hộ ngập mặn và các kịch bản tác động của nước biển dâng để xây dựng dự án hỗ trợ sinh kế cộng đồng ven biển thích ứng với xâm nhập mặn.
Câu hỏi thường gặp
Đóng góp của kinh tế biển Bến Tre vào GDP toàn tỉnh trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu?
Năm 2011, kinh tế biển và kinh tế vùng ven bờ của 3 huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú đóng góp khoảng 38% tổng GDP toàn tỉnh. Trong đó, kinh tế thuần biển chiếm tỷ trọng 17% GDP và đặt mục tiêu nâng mức đóng góp này lên 30% GDP vào năm 2020.
Những địa phương nào tại Bến Tre giữ vai trò hạt nhân phát triển kinh tế biển?
Ba huyện duyên hải gồm Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú giữ vai trò nòng cốt. Đây là các địa bàn sở hữu trọn vẹn hơn 65 km bờ biển, tập trung 5.337 tàu thuyền đánh bắt, 43.073 ha diện tích nuôi thủy sản và 4.147 ha rừng ngập mặn phòng hộ của tỉnh.
Ma trận QSPM được tác giả ứng dụng như thế nào để lựa chọn chiến lược tối ưu?
Tác giả đã lượng hóa các dữ liệu đầu vào từ ma trận EFE, IFE và các phương án kết hợp từ ma trận SWOT. Dựa trên việc chấm điểm mức độ hấp dẫn (thang điểm 1 - 4) từ ý kiến thống nhất của 35 chuyên gia quản lý, ma trận QSPM đã chọn lọc ra các chiến lược phát triển khai thác, nuôi trồng công nghệ cao và chế biến sâu có số điểm tổng hấp dẫn cao nhất.
Ngành kinh tế biển nào chiếm tỷ trọng lớn nhất và có lợi thế cạnh tranh cao nhất tại Bến Tre?
Khai thác và nuôi trồng thủy hải sản là ngành chủ lực vượt trội. Với tổng sản lượng năm 2011 đạt 330.100 tấn (nuôi trồng 195.495 tấn, khai thác 135.526 tấn), Bến Tre xác lập vị trí thứ 3 toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tạo nguồn nguyên liệu lớn cho công nghiệp chế biến xuất khẩu đạt 367,87 triệu USD.
Biến đổi khí hậu đặt ra những thách thức cụ thể nào đối với chiến lược phát triển kinh tế biển của tỉnh?
Dự báo nước biển dâng từ 20 cm đến 1 m cùng hiện tượng xâm nhập mặn kéo dài làm thay đổi hệ sinh thái thủy sinh và đe dọa nguồn nước ngọt sinh hoạt. Điều này buộc tỉnh phải chuyển đổi cơ cấu giống loài nuôi thích ứng mặn, đồng thời bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng đước phòng hộ ven bờ.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị chiến lược ngành và vùng, áp dụng thành công mô hình 3 giai đoạn của Fred R. David vào thực tiễn quản lý nhà nước tại Bến Tre.
- Đánh giá chuẩn xác thực trạng kinh tế biển Bến Tre giai đoạn 2001 - 2011 với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 9,22%/năm, kim ngạch xuất khẩu biển đóng góp 22% tổng xuất khẩu toàn tỉnh.
- Xác định rõ vị thế cạnh tranh của tỉnh đứng thứ 3 Đồng bằng sông Cửu Long về sản lượng thủy sản (330.100 tấn) cùng hệ thống 5.337 tàu khai thác và 43.073 ha diện tích nuôi trồng.
- Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ gồm hiện đại hóa đội tàu xa bờ, phát triển công nghiệp chế biến tinh, hoàn thiện hạ tầng liên vùng và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 66% vào năm 2020.
- Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy giúp các cấp lãnh đạo tỉnh Bến Tre hiện thực hóa mục tiêu đưa kinh tế biển thành ngành kinh tế mũi nhọn, đạt GDP bình quân 3.300 USD vào năm 2020.
Để khai thác tối đa giá trị thực tiễn từ công trình nghiên cứu này, các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục tra cứu toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh nhằm ứng dụng vào các đề án phát triển kinh tế duyên hải bền vững.