Chương 1: Cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu - Chương 2: Đánh giá Tổng quát hoạt động sản xuất kinh doanh của Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ và các yếu tố ảnh hưởng chiến lượcphát triển kinh doanh đến năm 2020. - Chương 3: Hoạch định chiến lược và đề xuất giải pháp thực hiện chiến lược phát triển kinh doanh cho Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ đến năm 2020. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm chiến lƣợc Theo Alfred Chandler (1962): Chiến lược kinh doanh là việc xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, áp dụng một chuỗi các hành động và phân bổ các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó. Theo Michal Porter (1996) thì chiến lược kinh doanh là việc tạo ra sự hài hòa trong các hoạt động của một công ty, sự thành công của chiến lược dựa trên việc làm tốt và kết hợp nhiều hoạt động, cốt lõi của chiến lược là tìm và sáng tạo ra cái chưa được biết đến.
Theo Anthony (2002) cho rằng “Hoạch định chiến lược kinh doanh là một quá trình quyết định các mục tiêu của doanh nghiệp, về những thay đổi trong các mục tiêu, về sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu, về các chính sách để quản lý các thành quả hiện tại, sử dụng và sắp đặt các nguồn lực”. Theo Denning (2003): “Hoạch định chiến lược kinh doanh là xác định các tình thế kinh doanh trong tương lai và có liên quan đặc biệt tới tình trạng sản phẩm – thị trường, khả năng sinh lợi, quy mô, tốc độ đổi mới, mối quan hệ với lãnh đạo, người lao động và công việc kinh doanh”. 9 Theo Fred David (2006), chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có: phát triển về lãnh thổ, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hàng hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, giảm chi phí, thanh lý và liên doanh Từ khái niệm trên, ta có thể thấy chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện.
Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu môi trường bên trong và bên ngoài một cách toàn diện của doanh nghiệp ở hiện tại cũng như tương lai, xây dựng các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định để đạt được mục tiêu đề ra nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong môi trường hiện tại cũng như trong tương lai. Chiến lược kinh doanh về cơ bản gồm các nội dung như xác định các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức, đề ra và chọn lựa các giải pháp để đạt được các mục tiêu, triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu. Chiến lƣợc kinh doanh thông thƣờng đƣợc xác định dƣới 3 cấp độ + Chiến lược cấp Công ty: xác định và vạch rõ mục đích, mục tiêu của công ty, các hoạt động kinh doanh của Công ty. + Chiến lược cấp kinh doanh: được hoạch định nhằm xác đinh việc lựa chọn sản phẩm hoặc dạng cụ thể của thị trường cho hoạt động kinh doanh riêng trong nội bộ Công ty, xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh sẽ cố gắng hoàn thành mục tiêu của nó để đóng góp vào việc hoàn thành mục tiêu của Công ty.
+ Chiến lượccấp chức năng: xác định các giải pháp, kế hoạch cho từng lĩnh vực kinh doanh. Các chiến lƣợc kinh doanh trong thực tiễn + Chiến lược tăng trưởng tập trung:Nhóm chiến lược này chủ yếu nhằm cải thiện vị thế cạnh tranh của Công ty với những sản phẩm hiện có trên cơ sở tăng cường hoạt động marketing hoặc thay đổi chiến lược thị trường hiện có mà không thay đổi sản phẩm nào. Có ba chiến lược chính: 10 + Chiến lược thâm nhập thị trường: tìm kiếm thị phần tăng lên cho các sản phẩm hiện tại và các dịch vụ trong các thị trường hiện có qua những nỗ lực tiếp thị nhiều hơn. + Chiến lược phát triển thị trường: đưa các sản phẩm hiện có vào các khu vực thị trường mới.
+ Chiến lược phát triển sản phẩm:tăng doanh số bằng cách cải tiến hoặc sửa đổi sản phẩm, dịch vụ hiện có theo chiều sâu. Chiến lƣợc phát triển hội nhập Nhóm chiến lược này nhắm tới mục tiêu kiểm soát các nhà phân phối, nhà cung cấp hoặc các đối thủ cạnh tranh. Có các chiến lược sau: + Hội nhập về phía trước: nhằm tăng quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với nhà phân phối hoặc bán lẽ hàng hóa cho doanh nghiệp. + Hội nhập về phía sau: tìm kiếm quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với nhà cung cấp của doanh nghiệp.
+ Hội nhập theo chiều ngang: tìm kiếm quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Chiến lƣợc đa dạng hóa + Nhóm chiến lược này thường được dùng trong các Công ty đa ngành, nó chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược cấp Công ty. Nhóm chiến lược này tương đối uyển chuyển và linh hoạt, tuy nhiên đòi hỏi những cơ sở hạ tầng về vật chất, tài chính và khả năng quản trị. Bao gồm các chiến lược sau: + Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm:nhằm thêm các sản phẩm mới nhưng có liên hệ với nhau (nhóm hàng hóa thay thế hay bổ sung).
+ Chiến lược đa dạng hóa hàng ngang: thêm những sản phẩm, dịch vụ mới (không có liên quan đến sản phẩm hiện tại) nhằm vào khách hàng hiện có. + Chiến lược đa dạng hóa tổng hợp: thêm vào những sản phẩm, dịch vụ mới không có gì liên hệ với nhau (nhóm hàng hóa độc lập). Chiến lƣợc suy giảm 11 + Nhóm chiến lược này được sử dụng khi Công ty cần chỉnh đốn sau những ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế hay cần phải củng cố tránh sự suy thoái toàn diện của Công ty bao gồm các chiến lược sau: + Thu hẹp hoạt động: củng cố lại tổ chức thông qua cắt giảm chi phí và tài sản để tập trung nguồn lực vào một hoặc một số ngành đang có lợi thế. + Cắt bỏ hoạt động: bán đi một bộ phận của Công ty nhưng vẫn bảo đảm Công ty hoạt động được.
+ Thanh lý: bán tất cả tài sản của Công ty từng phần một với giá trị thực của nó.2 Vai trò, yêu cầu và lợi ích khi xây dựng chiến lƣợc kinh doanh 1.1 Vai trò của chiến lƣợc kinh doanh Theo Nguyễn Thị Liên Diệp và Phạm Văn Nam (2012): Chiến lược kinh doanh có vai trò như sau: Vai trò hoạch định: chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình. Nó chỉ ra cho nhà quản trị biết phải xem xét và xác định xem tổ chức đi theo hướng nào và lúc nào sẽ tạo được kết quả mong muốn. Vai trò dự báo: Trong một môi trường luôn luôn biến động, các cơ hội cũng như nguy cơ luôn luôn xuất hiện. Quá trình hoạch định chiến lược giúp cho nhà quản trị phân tích môi trường và đưa ra những dự báo nhằm đưa ra các chiến lược hợp lý.
Nhờ đó nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng được các cơ hội và giảm bớt các nguy cơ liên quan đến môi trường. Vai trò điều khiển: Chiến lược kinh doanh giúp nhà quản trị sử dụng và phân bổ các nguồn lực hiện có một cách tối ưu cũng như phối hợp một cách hiệu quả các chức năng trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra.2 Các yêu cầu khi xây dựng chiến lƣợc và thực hiện chiến lƣợc Theo Nguyễn Thị Liên Diệp và Phạm Văn Nam (2012): Một là, chiến lược kinh doanh phải đạt được mục đích tăng thế lực của doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh. Vì chiến lược kinh doanh chỉ thật sự cần thiết khi có cạnh tranh trên thị trường. Không có đối thủ cạnh tranh, thì không cần thiết chiến lược kinh doanh.
Muốn đạt được yêu cầu này, khi xây 12 dựng chiến lược phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của doanh nghiệp mình, tập trung các biện pháp nhằm tận dụng thế mạnh chứ không dùng quá nhiều công sức cho việc khắc phục các điểm yếu tới mức không đầu tư gì thêm cho các mặt mạnh. Hai là, chiến lược kinh doanh phải bảo đảm sự an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh chứa đựng trong lòng nó yếu tố mạo hiểm mà các doanh nghiệp thường phải đương đầu. Do vậy, sự an toàn trong kinh doanh, nhiều khi lại là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp.
Để đạt được yêu cầu này, chiến lược kinh doanh phải có vùng an toàn, trong đó khả năng rủi ro có thể xảy ra nhưng chỉ là thấp nhất. Phải luôn đề phòng tư tưởng xây dựng chiến lược theo kiểu được ăn cả, ngã về không, do chưa hiểu kỹ thuyết kinh doanh mạo hiểm. Ba là, phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để được thực hiện mục tiêu. Việc xác định phạm vi kinh doanh trong chiến lược kinh doanh, phải đảm bảo sao cho khắc phục được sự dàn trải nguồn lực, hoặc tránh được tình trạng không sử dụng được hết nguồn lực.
Trong mỗi phạm vi kinh doanh nhất định, các doanh nghiệp có thể định ra mục tiêu cần đạt tới phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Việc xác định mục tiêu phải rõ ràng, phải chỉ ra được những mục tiêu cơ bản nhất, then chốt nhất. Đi liền với mục tiêu, cần có hệ thống các chính sách, biện pháp và điều kiện vật chất, kỹ thuật, lao động làm tiền đề cho việc thực hiện mục tiêu ấy. Những vấn đề lớn này trong chiến lược kinh doanh không nên thể hiện trên những bản thuyết minh dài lê thê, trái lại cần hết sức ngắn gọn, súc tích.
Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng, các chiến lược kinh doanh của những doanh gia có đầu óc gần như có một đặc điểm chung là: đơn giản và tự nhiên. Bốn là, phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai. Việc dự đoán này càng chính xác bao nhiêu thì chiến lược kinh doanh càng phù hợp bấy nhiêu. Dự đoán trước hết là một hoạt động của trí não, vì vậy muốn có được dự đoán tốt, cần có một khối lượng thông tin và tri thức nhất định, đồng thời phải có phương pháp tư duy đúng đắn để có được cái nhìn thực tế và sáng suốt về tất cả những gì mà doanh nghiệp có thể phải đương đầu ở tương lai.