Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích chiến lược phát triển hoạt động đầu tư dự án của Tổng công ty Đầu tư phát triển Nhà và Đô thị Bộ Quốc phòng. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển hoạt động đầu tư dự án của Tổng công ty Đầu tư phát triển Nhà và Đô thị Bộ Quốc phòng giai đoạn 2020 - 2025. Luan van 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát chung về chiến lƣợc phát triển của doanh nghiệp 1. Khái niệm chiến lược Chiến lược được hiểu một cách chung nhất là phương thức để thực hiện mục tiêu. Khái niệm này xuất phát từ lĩnh vực quân sự. Chiến lược được các nhà quân sự sử dụng nhằm hoạch định, khai thác những yếu tố tổng hợp tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân ta và giảm thiểu những rủi ro, hạn chế cho quân ta.
Ngoài ra nó còn cho phép khai thác những điểm yếu của quân địch, tạo ra được lợi thế khi xảy ra chiến tranh. Do có một số tính ưu việt này nên các nhà kinh tế học vận dụng chiến lược vào trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là chiến lược kinh doanh. Để hiểu sâu sắc hơn về chiến lược kinh doanh chúng ta cần đi sâu tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển các quan điểm về chiến lược kinh doanh. Theo quan điểm truyền thống, chiến lược được coi là một bản kế hoạch thống nhất, toàn diện, mang tính chất phối hợp nhằm đảm bảo cho những mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp được thực hiện.
Alfred Chandler (1962) một trong những nhà khởi xướng và phát triển lý thuyết về quản trị chiến lược đã định nghĩa: “Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của một tổ chức và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này”. Trong khi đó, James B. Quinn (1980) đã định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau”. Điều này có nghĩa là chiến lược của một tổ chức là kết quả của một quá trình hợp lý, đưa ra những bản kế hoạch cụ thể.
Tuy nhiên trên thực tế trước sự vận động biến đổi không ngừng của điều kiện khách quan thì chiến lược còn xuất hiện mà không có sự dự tính trước. Do đó, cần mở rộng khái niệm về chiến lược nhằm có khái niệm cụ thể hơn, chính xác hơn về vấn đề này. Nếu vẫn giữ quan điểm coi chiến lược là một bản kế hoạch thì nó phải là sự kết hợp của quá trình hoạch định Luan van 5 những kế hoạch có dự trù trước với những kế hoạch phát sinh ngoài dự định. Theo quan điểm này thì nhà chiến lược không chỉ thực hiện việc hoạch định những chiến lược dự trù trước mà ngoài ra còn cần phải có những quyết định chiến lược nằm ngoài kế hoạch để thích ứng kịp thời với sự thay đổi nằm ngoài ý muốn chủ quan và không lường trước được.
Johnson và Schole (1999) định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt được lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình các nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trường và thoả mãn kỳ vọng của các bên hữu quan”. Theo cách hiểu khác thì chiến lược được coi là một mô thức cho các quyết định và hành động quan trọng của doanh nghiệp, trong đó bao gồm một vài nhân tố, sự kiện mà nhờ đó tổ chức có được sự khác biệt với các tổ chức khác. Như vậy chiến lược thực chất là một sự đồng nhất trong hành động của doanh nghiệp dù có hay không được dự trù trước. Khái niệm này chú trọng đến khái cạnh hành động của tổ chức, một chuỗi các hành động trong sự thống nhất, nhất quán dẫn đến các mục tiêu lựa chọn.
Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển “Khái niệm Chiến lược công ty” (The Concept of Corporate Strategy). Theo ông, chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bổi cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa. Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Chiến lược là chuỗi các quyết định và hành động tạo ra sự thay đổi về chất bên trong của doanh nghiệp.
Chiến lược là yếu tố cơ bản tạo nên sự phát triển và thành công của tổ chức. Theo cách tiếp cận này, thuật ngữ chiến lược phát triển được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: - Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. - Đưa ra các chương trình hành động tổng quát. Luan van 6 - Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó.
Tóm lại, chiến lược dù được hiểu dưới khía cạnh này hay khía cạnh khác thì nó vẫn giữ bản chất là phương thức để thực hiện mục tiêu dài hạn. Chiến lược là một cái gì đó hướng tới tương lai, đưa những trạng thái hiện có của tổ chức tới những đích đã được định sẵn trong tương lai. Khái niệm chiến lược phát triển Chiến lược phát triển là một trong những chiến lược thể hiện định hướng hoạt động của doanh nghiệp mà theo đó doanh nghiệp sẽ tìm cách mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động của mình nhằm đạt được và duy trì những thành công. Cụ thể hơn, có quan niệm cho rằng chiến lược phát triển là một chương trình hành động tổng quát, dài hạn, hướng hoạt động của toàn doanh nghiệp tới việc đạt được các mục tiêu xác định.
Chiến lược phát triển là những giải pháp định hướng có khả năng giúp các doanh nghiệp gia tăng doanh số và lợi nhuận của các đơn vị kinh doanh cao hơn hoặc bằng tỷ lệ tăng trưởng bình quân của ngành. Chiến lược này gắn liền với các mục tiêu phát triển nhanh hoặc phát triển ổn định. Khác về bản chất so với kế hoạch hóa truyền thống, đặc trưng cơ bản của chiến lược nói chung và chiến lược phát triển doanh nghiệp nói riêng là động và tấn công. Vai trò của chiến lược phát triển đối với doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường hiện nay, việc xây dựng thực hiện chiến lược có ý nghĩa quan trọng với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vai trò của chiến lược đối với doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh sau: Một là, chiến lược giúp cho doanh nghiệp nhận rõ được mục đích, hướng đi của mình trong tương lai, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chiến lược đóng vai trò định hướng hoạt động trong dài hạn của doanh nghiệp, nó là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp. Sự thiếu vắng chiến lược hoặc chiến lược được thiết lập không rõ ràng, không có luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp mất phương hướng, có nhiều vấn đề nảy sinh Luan van 7 chỉ thấy trước mắt mà không gắn được với dài hạn hoặc chỉ thấy cục bộ mà không thấy được vai trò của cục bộ trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Hai là, chiến lược giúp doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có các biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ, mối đe dọa trên thương trường kinh doanh.
Ba là, chiến lược góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cường vị thế của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững. Bốn là, chiến lược tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp đề ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường. Nó tạo ra cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển, đào tạo bồi dưỡng nhân sự, hoạt động mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm. Trong thực tế phần lớn các sai lầm trong đầu tư, công nghệ, thị trường … đều xuất phát từ chỗ xây dựng chiến lược hoặc có sự sai lệch trong xác định mục tiêu chiến lược.
Cội nguồn thành công hay thất bại phụ thuộc vào một trong những yếu tố quan trọng là doanh nghiệp có chiến lược như thế nào. Phân loại chiến lược phát triển Chiến lược phát triển của doanh nghiệp thường thể hiện qua ba loại chiến lược là chiến lược phát triển tập trung, chiến lược hội nhập dọc và chiến lược đa dạng hóa. Chiến lược hội nhập dọc Chiến lược hội nhập thích hợp với các doanh nghiệp đang kinh doanh các ngành kinh tế mạnh, khi cơ hội có sẵn phù hợp với các mục tiêu và chiến lược dài hạn mà doanh nghiệp đang thực hiện. Chiến lược này cho phép củng cố vị thế của doanh nghiệp và cho phép phát huy đầy đủ hơn khả năng kỹ thuật của doanh nghiệp.
Các loại chiến lược hội nhập gồm có: hội nhập theo chiều dọc và hội nhập theo chiều ngang. Sự hội nhập theo chiều dọc có nghĩa là một công ty đang tự sản xuất đầu vào cho quá trình sản xuất của mình (sự hội nhập ngược chiều) hoặc đang Luan van 8 tự giải quyết đầu ra của mình (sự hội nhập xuôi chiều). Đối với một công ty ở trong giai đoạn lắp ráp, sự hợp nhất ngược chiều liên quan tới việc dịch chuyển quá trình sản xuất trung gian và sản xuất nguyên liệu thô. Sự hợp nhất xuôi chiều liên quan tới sự dịch chuyển quá trình phân phối.
Mỗi một giai đoạn trong chuỗi, giá trị được thêm vào cho tới khi thành phẩm. Điều này có nghĩa một công ty ở vào giai đoạn dùng sản phẩm được sản xuất ở giai đoạn trước, biến đổi nó theo cách nào đó, và sau đó bán sản phẩm ở mức giá cao hơn cho một công ty ở giai đoạn sau của chuỗi. Sự khác biệt giữa giá trả cho đầu vào và giá sản phẩm được bán là biện pháp đo lường giá trị gia tăng ở giai đoạn đó. Ngược chiều Xuôi chiều Hình 1.1: Các giai đoạn trong chuỗi từ nguyên liệu thô tới khách hàng (Nguồn: Hoàng Văn Hải, 2015) Bên cạnh sự hội nhập xuôi chiều và ngược chiều, cũng có thể phân biệt giữa sự hội nhập toàn bộ và hợp nhất từng phần.