Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Các tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương này cũng thảo luận về ý nghĩa của đề tài và cung cấp một sơ đồ tổng quan về cấu trúc của khóa luận. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 các tác giả sẽ tập trung nêu ra các khái niệm liên quan đến đề tài, trình bày lợi ích, thách thức và các yếu tố ảnh hưởng đến đề tài đang nghiên cứu. Các khái niệm liên quan 2.
Khái niệm về chiến lược “Strategos” là thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự trong tiếng Hy Lạp. Qua nhiều giai đoạn thời gian, ý nghĩa của nó ngày càng thay đổi theo hướng phát triển, được áp dụng vào các hoạt động khác của con người và đặc biệt là trong các chiến lược kinh doanh. Sự hiểu biết về môi trường cạnh tranh và việc giải thích các tác động của cạnh tranh trong một doanh nghiệp là một trong những vấn đề chính đối với các nhà chiến lược kinh doanh (Đàm Trí Cường, 2022). Majid (2020) mô tả chiến lược như sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty, tạo ra một vị thế độc đáo và có giá trị.
Tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh chính là cốt lõi của chiến lược, bao gồm sự đặc biệt hóa và lựa chọn đánh đổi, nhằm tập trung nguồn lực một cách hiệu quả nhất để tạo nên lợi thế cho tổ chức. Như vậy, các khái niệm trên đều quan niệm: Chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, sự hiểu biết về môi trường cạnh tranh và việc giải thích các tác động của cạnh tranh cũng là một trong những vấn đề chính đối với các nhà chiến lược kinh doanh trong một doanh nghiệp. Khái niệm ngành dệt may Echeverria và cộng sự (2019), ngành dệt may là ngành sản xuất ra sản phẩm may mặc, để thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu về may mặc, thời trang của con người với những sản phẩm đa dạng được thực hiện bằng các hệ thống sản xuất công nghiệp hiện đại. Ngành dệt may gây ô nhiễm cao bởi vì quá trình sản xuất và xử lý hàng dệt may gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường như mức tiêu thụ năng lượng và nước cao bên cạnh việc gây ô nhiễm hóa chất độc hại cho nước, suy thoái đất, khí thải nhà kính, tạo ra lượng khí thải carbon cao và lượng lớn chất thải (Echeverria và cộng sự, 2019).
9 Cụ thể hơn, khi doanh nghiệp sản xuất ra chiếc áo thun cotton, 2.700 lít nước và một lượng lớn chất độc hại hóa chất được sử dụng có ảnh hưởng đến đất, nước, hệ sinh thái và con người sức khỏe. Ngay cả việc sản xuất len (dựa trên protein) cần có sự quản lý của vật nuôi cũng gây ra cho môi trường hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như chăn thả thâm canh, xói mòn đất. Ngành công nghiệp dệt may tồn tại để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người, bao gồm vải vóc, quần áo và các sản phẩm khác được làm từ sợi như bít tất, khăn,… Ngành dệt may sử dụng lực lượng lao động lớn, đặc biệt là lao động nữ và thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Các khâu chính trong ngành dệt may bao gồm kéo sợi, dệt vải, nhuộm và hoàn tất vải.
Quá trình kéo sợi liên quan đến việc sản xuất sợi từ nguyên liệu thô đa dạng, trong đó từng sợi đơn được xoắn lại với nhau để tạo thành sợi dài và chắc chắn (Wiedemann và cộng sự, 2016). Như vậy, ngành dệt may sản xuất sản phẩm may mặc để thỏa mãn nhu cầu về thời trang của con người, thông qua các giai đoạn khác nhau từ kéo sợi, dệt vải, nhuộm cho đến hoàn thiện vải. Bên cạnh việc góp phần quan trọng trong cung cấp quần áo và vải vóc để phục vụ nhu cầu thiết yếu thì ngành dệt may cũng đồng thời gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do tiêu thụ năng lượng lớn, sử dụng nước và hóa chất độc hại từ đó làm suy thoái đất, phát thải khí nhà kính và tạo ra một lượng lớn chất thải. Khái niệm chuỗi cung ứng xanh 2.
Khái niệm chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là mạng lưới của hầu hết các thực thể khi tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối ra thành phẩm cung cấp đến tay người tiêu dùng. Điều này bao gồm tất cả quy trình từ khâu tìm nguồn nguyên liệu thô và các bộ phận linh kiện; quy trình chế tạo, sản xuất, lắp ráp sản phẩm; quy trình bảo quản hàng hóa trong kho; quy trình nhập và theo dõi đơn hàng; quy trình phân phối và đến khâu cuối cùng là giao hàng cho khách hàng (Nara R. Chuỗi cung ứng như một hệ thống tương tác của các tổ chức, liên quan đến các quy trình và hoạt động ngược và xuôi để tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các công đoạn có liên quan, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Đồng thời, chuỗi 10 cung ứng không chỉ giới hạn ở nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn bao gồm các bên liên quan như nhà vận chuyển, kho, nhà bán lẻ và khách hàng (Chopra và Meindl, 2007). Theo Lu (2011), chuỗi cung ứng có thể được mô tả như một hệ thống các liên kết giữa các công ty hoặc các bộ phận trong một công ty với mục đích giúp tối ưu hóa giá trị thông qua việc chuyển đổi nguồn lực từ đầu vào thành sản phẩm hoặc dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng cuối cùng. Điều này bao gồm các hoạt động từ khâu ban đầu đến khâu kết thúc bao gồm giai đoạn nhà cung cấp, quá trình sản xuất sản phẩm đến việc chuyển giao sản phẩm đến tay người tiêu dùng, với mục tiêu chính là đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Tóm lại, mỗi nhà khoa học ở các giai đoạn khác nhau sẽ đưa ra các quan điểm không giống nhau về định nghĩa chuỗi cung ứng xanh.
Tuy nhiên, nhìn chung họ đều nhấn mạnh vào mạng lưới, hệ thống tương tác giữa các tổ chức và bên liên quan, cũng như quy trình và hoạt động liên quan trong việc tạo ra giá trị để đáp ứng nhu cầu của khách hàng cuối cùng. Các nhà khoa học cũng đồng tình rằng chuỗi cung ứng không chỉ giới hạn ở nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn bao gồm các bên liên quan khác như nhà vận chuyển, kho, nhà bán lẻ và khách hàng. Đồng thời, các nhà khoa học đều nhấn mạnh vào việc quản lý và tối ưu hóa giá trị thông qua quy trình từ khâu ban đầu đến khâu kết thúc của chuỗi cung ứng. Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) là việc quản lý tất cả các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng cuối cùng.
Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hầu hết các hoạt động kinh doanh như tiếp thị, sản xuất, mua hàng, hậu cần và các hoạt động tổng quát như tài chính, quản lý nhân sự. Quản trị chuỗi cung ứng được coi là cần thiết để phát triển một văn hóa doanh nghiệp đạt chuẩn toàn cầu và được xem xét là một cách tiếp cận toàn diện (Quayle, 2006). SCM dù có vẻ đơn giản, cuối cùng là quản lý toàn diện của doanh nghiệp, được nhận thức và triển khai từ quan điểm liên quan đến chuỗi cung ứng để phản ánh bối cảnh cụ thế của nó (Lu, 2011). SCM là sự tổng hợp các yếu tố của việc lập kế hoạch, phân tích, điều phối và lập kế hoạch cho mọi hoạt động liên quan đến các hoạt động tìm nguồn cung ứng và mua sắm, chuyển đổi và quản lý hậu cần.
Hoạt động này đòi hỏi một liên minh giữa các nhà cung cấp tài 11 nguyên, thương nhân, người trung gian, nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba, đại lý, nhà phân phối và khách hàng. SCM là sự tách biệt giữa cung và cầu quản lý trong và giữa các công ty thành một mô hình kinh doanh gắn kết và hiệu quả cao, chứa đựng hầu các hoạt động quản lý hậu cần và hoạt động sản xuất cũng như thúc đẩy phối hợp các quy trình và hoạt động với và giữa các bộ phận tiếp thị, bán hàng, thiết kế sản phẩm, tài chính và công nghệ thông tin (Jaggernath, 2015). Như vậy, SCM được nhấn mạnh về đòi hỏi việc quản lý toàn diện của các hoạt động kinh doanh, từ tiếp thị, sản xuất, mua hàng đến hậu cần và các hoạt động tổng quát như tài chính và quản lý nhân sự. Việc thiết lập liên minh giữa các nhà cung cấp tài nguyên, thương nhân, người trung gian, nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba, đại lý, nhà phân phối và khách hàng là yếu tố quan trọng trong quản trị chuỗi cung ứng với mục tiêu chính của SCM là đáp ứng nhu cầu của khách hàng cuối cùng thông qua việc tối ưu hóa các hoạt động liên quan đến chuỗi cung ứng.
Các loại chuỗi cung ứng Có nhiều mô hình chuỗi cung ứng khác nhau, sau đây là những mô hình chuỗi cung ứng cơ bản: Thứ nhất là chuỗi cung ứng đơn giản, Michael H. Hugos (2019) chỉ ra rằng chuỗi cung ứng đơn giản bao gồm ba thành phần cơ bản, chẳng hạn như một công ty kết nối với các nhà cung cấp và khách hàng của họ như Hình 2. Mô hình chuỗi cung ứng này, công ty được xem xét như là nhà sản xuất. Những nhà cung cấp là các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu cho nhà sản xuất và khách hàng bao gồm các nhà phân phối hoặc những người mua trực tiếp sản phẩm từ nhà sản xuất.
Những nhà cung cấp nguyên vật liệu cũng có thể được coi là những nhà sản xuất nguyên vật liệu thô. Nhà cung cấp Công ty Khách hàng Hình 2.1: Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Nguồn: Michael H. Hugos (2019) 12 Thứ hai là chuỗi cung ứng mở rộng. Trong mô hình chuỗi cung ứng mở rộng, có công ty và các nhà cung cấp trung gian như: nhà cung cấp khởi đầu là những doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu thô hoặc là nhà sản xuất nguyên vật liệu thô, nhà cung cấp mua nguyên liệu thô từ nhà cung cấp nguyên vật liệu khởi đầu để cung cấp cho nhà sản xuất như Hình 2.
Song với sự xuất hiện của nhiều nhà cung cấp thì xuất hiện nhiều khách hàng trung gian như: khách hàng là các đơn vị phân phối sản phẩm cho nhà sản xuất, khách hàng cuối cùng là những người tiêu dùng cuối cùng mua sản phẩm để sử dụng.