Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005, “du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” (Luật Du lịch Việt Nam, 2005) 8 9 Như vậy, các khái niệm vừa đề cập ở trên của các tổ chức ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đều coi du lịch là hoạt động của con người, liên quan đến việc di chuyển, đi lại nhằm đáp ứng mong muốn củakhách du lịch. Tuy nhiên, để hiểu được bản chất của du lịch cần phải xem xét nó dưới các góc độ khác nhau của các chủ thể tương tác, hình thành nên du lịch, từ đó khái quát lên một định nghĩa chính xác, đầy đủ về du lịch. Theo Micheal Coltman, trong cuốn Introduction to Travel and Tourism: An International Approach - 1989,ông khẳng định “du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách”(hình 1.1: 4 nhóm chủ thể hình thành hoạt động du lịch Từ những khái niệm trên có thể nhận thấy, du lịch là lĩnh vực là một hoạt động có nhiều đặc thù với phạm vi khá rộng,tác giả đưa ra khái niệm chung về du lịch được sử dụng thống nhất trong luận văn này như sau: “Du lịch là hoạt động của con người di chuyển ra ngoài nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi khác mang tính tạm thời, 10 trong một thời gian ngắn, nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập tại nơi đến viếng thăm, qua đó thiết lập nên các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư địa phuơng. Khái niệm phát triển du lịch a.
Khái niệm phát triển Khi đề cập đến sự phát triển, có rất nhiều khái niệm, quan điểm đã được các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực đưa ra thảo luận cảở góc độ kinh tế lẫn triết học nhưng nhìn chung, có thể hiểu phát triển là quá trình vận động tiến lên từ không có đến có, từ “ ít đến nhiều, từ đơn điệu đến đa dạng, từ chất lượng thấp đến chất lượng cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chỉ có mục tiêu kinh tế đến có mục tiêu tổng hợp ” b. Khái niệm phát triển du lịch Phát triển du lịch là quá trình mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng của các “ hoạt động khai thác tài nguyên, dịch vụ du lịch nhằm thu hút du khách, góp phần tăng doanh thu, lợi nhuận của hoạt động du lịch và thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội, môi trường ở địa phương. Nói cách khác, phát triển du lịch là sự kết hợpcác mối quan hệ phát sinh trong quá trình tương tác giữa các 4 nhóm chủ thể khác nhau như Coltman đã trình bày theo hướng thoả mãn nhu cầu khám phá, trải nghiệm của du khách, đảm bảo tương táctheo hướng ngày càng rộng hơn, chất lượng hơn, đa dạng và hoàn thiện hơn. Phát triển du lịch cần đảm bảo tình bền vững, đó là quá trình phát triển cân đối, sự kết hợp đồng bộ giữa các chủ thể và giữa các mặt kinh tế, văn hoá – xã hội, môi trường của địa phương.
Các mặt trong tổng thể đó luôn có mối quan hệ qua lại, gắn bó, hỗ trợ, tác động lẫn nhau, từ đó thúc đẩy nhau cùng phát triển hoặc cũng có thể kìm hãm nhau nếu sự kết hợp đó không khoa học. ” Từ những phân tích trên, theo nghĩa hẹp, có thể hiểuphát triển du lịch là gia tăng về lượng và chấtcủa hoạt động du lịch tại các khu vực, địa điểm có tài nguyên du lịch, đồng thời đảm bảo sự gia tăng của hệ thống CSHT du lịch, lao động cho du lịch. Đồng thời phát triển du lịch cần đảm bảo phát triển theo chiều sâu, không ngừng gia tăng kết quả và đóng góp của du lịch cho phát triển kinh tế của địa phương, bảo đảm sự bền vững, đồng bộ của hoạt động phát triển du lịch với các mục tiêu khác về VH- 11 XH-MT của địa phương.Đây cũng là định nghĩa được luận văn sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài phát huy lợi thế để phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Vai trò của phát triển du lịch đối với kinh tế, xã hội và môi trường Dựa vào định nghĩa Du lịch ở phần trên, có thể nhận thấy du lịch là một lĩnh vực có tác động rộng khắp.
Ở góc độ kinh tế, việc phát triển du lịch không chỉ mang lại nguồn tài chính dồi dào mà còn là đòn bẩy thúc đẩy các ngành khác. Thêm vào đó, những địa điểm, khu vực du lịch sẽ thu hút du khách, từ đó thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp cùng phát triển. Cụ thể như sau: Dưới góc độ kinh tế, phát triển du lịch góp phần tích cực trong quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (thông qua các hoạt động sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực “ phẩm, hoàn thiện cơ sở hạ tầng,.), tạo động lực cho tăng trưởng, giúp khuyến khích và thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và mang lại cơ hội phát triển cho ngành nghề khác.Phát triển du lịch tuy không làm biến đổi cán cân thương mại chung của đất nước nhưng lại có tác dụng điều hoà nguồn vốn từ vùng có kinh tế phát triển sang vùng kém phát triển hơn, qua đó tạo nên tác động tích cực vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân. Dưới góc độ xã hội, hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ, phối hợp liên ngành, do đó, phát triển du lịch sẽ tạo việc làm cho đông đảo người lao động, từ đó tạo nguồn thu nhập cho họ và giảm thiểu nhiều vấn đề tiêu cực khác.
Dưới góc độ văn hoá, phát triển du lịch là một hình thức truyền thông hữu hiệu giúp quảng bá hìnhảnh địa phương, đất nướcvà góp phần khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc, lòng yêu nước và giáo dục tính nhân văn cho thế hệ trẻ thông qua việc mở mang kiến thức, gia tăng sự hiểu biết về quê hương, đất nước, con người của dân tộc mà du khách viếng thăm. ” Dưới góc độ môi trường, phát triển du lịch kích thích việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, kinh phí từ hoạt động này sẽ được sử dụng để bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động tái tạo, bảo vệ môi trường. Khái niệm về lợi thế và một số lý thuyết về phát huy lợi thế 1.
Khái niệm về lợi thế Khái niệm lợi thế đã xuất hiện từ rất lâu và trở thành chủ đề được các quốc gia nói chung và các nhà kinh tế nói riêng sử dụng rất phổ biến, tuy nhiên, do cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu của đối tượng khác nhau nên trong thực tế có rất nhiều 12 quan điểm về lợi thế, có nhiều loại lợi thế: lợi thế so sánh, lợi thế tuyệt đối, lợi thế địa phương. Khi nghiên cứu về hoạt động ngoại thương, Adam Smith - người mở đường cho phát triển lý luận kinh tế đã tìm ra quy luật về lợi thế tuyệt đối trong trao đổi thương mại quốc tế, ông đã khẳng định nếu mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất, mở rộng ra là khai thác những sản phẩm có chi phí sản xuất thấp hơn hẳn – hay nói cách khác là có sự nổi trội hơn hẳn so với các quốc gia khác với một mức chi phí thấp hơn chi phí trung bình của quốc tế thì các quốc gia sẽ cùng có lợi. David Ricardo là người đầu tiên đưa ra quan điểm về lợi thế dưới dạng lợi thế so sánh (1817). Qua nghiên cứu của mình, ông khẳng định:“khi mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất, khai thác những hàng hoá hay lĩnh vực mà mình có lợi thế hơn so với các quốc gia khác thì quốc gia đó chắc chắn sẽ thu được lợi ích.” Báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tổ chức tại Lausanne (2006) cho rằng lợi thế cạnh tranh là “Khả năng thiết kế, sản xuất và tung ra thị trường những hàng hoá và dịch vụ có đặc tính giá cả và phi giá cả để hình thành một sự kết hợp có đăc tính hấp dẫn hơn so với các đối thủ khác”.
Theo Michael Porter, “lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà nhờ có chúng, các đơn vị kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh là: hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và sự đáp ứng khách hàng, các yếu tố đó tạo thành một khối thống nhất và có sự tương tác lẫn nhau rất mạnh.” Theo Wikipedia, “lợi thế cạnh tranh là việc sở hữu những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được thể “năm bắt cơ hội” và kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến những lợi thế mà một doanh nghiếp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ”. Khi gắn các khái niệm lợi thế với phạm vi lãnh thổ quốc gia, địa phương, tiến sĩ Nguyễn Thế Vinh (2016) cho rằng: Lợi thế so sánh quốc gia là dấu hiệu biểu hiện sự vượt tội về các yếu tố phát triển của quốc gia này so với quốc gia khác (như vị trí địa kinh tế - chính trị, tài nguyên, tiềm lực khoa học – công nghệ.); tương tự, lợi thế so sánh tỉnh cũng là sự vượt trội về các yếu tố phát triển của tỉnh này so với một tỉnh khác, lợi thế so sánh tỉnh cũng là dấu hiệu cho thấy việc cạnh tranh của tỉnh trên cơ sở tuyệt đối.” 13 Từ những khái niệm, quan điểm ở trên, ta có thể tóm tắt thành một khái niệm sẽ được sử dụng xuyên suốt trong bài như sau: “Lợi thếlà những đặc điểm hay các biến số của sản phẩm, nhãn hiệu hoặc nguồn lực mà nhờ có chúng, doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia có đựoc sự vượt trội, ưu việt hơn so với những các doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia khác.