LỜI MỞ ĐẦU Quan điểm kinh doanh marketing cho rằng chìa khóa để đạt được những mục tiêu trong kinh doanh của doanh nghiệp là doanh nghiệp phải xác định được những mục tiêu trong kinh doanh của doanh nghiệp và phải xác định đúng nhu cầu và mong muốn của thị trường, khách hàng mục tiêu từ đó tìm cách đảm bảo sự thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng các phương thức ưu thế hơn đối với cạnh tranh. Hay nói rõ hơn các doanh nghiệp muốn cạnh tranh tốt trên thi trường cần phải quan tâm đến hoạt động Marketing. Sau một thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và Xây dựng 568, được sự hướng dẫn nhiệt tình của và các anh chị tại phòng Kế hoạch Công ty Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và Xây dựng 568 em đã phát triển và xây dựng nên đề tài: “Xây dựng chiến lƣợc Marketing – mix tại công ty Cổ phần Đầu tƣ Thƣơng mại và Xây dựng 568”. Luận văn của em được chia làm 3 nội dung chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing – Mix tại công ty Cổ Phần.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác Marketing tại Công ty Cổ phần đâu tư Thương mại và Xây dựng 568. Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện chiến lược Marketing – mix nhằm mở rộng thị trường kinh doanh của doanh nghiệp. Với nội dung như vậy tuy vẫn chưa thực sự tìm ra tất cả vướng mắc của Công ty nhưng những vấn đề chính thuộc về Marketing mà Công ty đang có và cần khắc phục em cũng trình bày rõ ràng. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô giáo và anh chị để đề tài em hoàn thiện hơn.
Em xin tỏ lòng biết ơn tới cô giáo THS. Cù Thị Lan Anh đã giúp em hoàn thành đề tài này. Em xin chân thành cảm ơn! 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING-MIX TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp cổ phần 1.
Khái niệm về công ty cổ phần Theo quy định tại Điều 110 – Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Công ty Cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa. c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13.
Đặc điểm của công ty cổ phần Về thành viên (cổ đông): Đặc điểm về cổ đông của công ty cổ phần là hệ quả đặc điểm về cấu trúc vốn. Với căn cứ xác lập tư cách cổ đông là quyền sở hữu cổ phần, trong khi cổ phần có thể được chào bán cho rộng rãi các đối tượng khác nhau, cổ đông của công ty này thường rất lớn về số lượng và không quen biết nhau. Luật Doanh nghiệp chỉ hạn định số lượng tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa các cổ đông của công ty cổ phần, theo đó công ty này phải có ít nhất 3 cổ đông trong suốt quá trình hoạt động. Về cấu trúc vốn: Công ty cổ phần có cấu trúc vốn “mở”.
2 Đặc điểm về cấu trúc vốn của công ty cổ phần thể hiện trước hết ở vốn điều lệ của công ty. Vốn điều lệ của công ty phải được chia thành những phần nhỏ nhất bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá (giá trị danh nghĩa) của cổ phần và có thể được phản ánh trong cổ phiếu. Tư cách cổ đông của công ty được xác định dựa trên căn cứ quyền sở hữu cổ phần.
Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần trừ một số trường hợp bị Pháp luật cấm chuyển nhượng hoặc hạn chế chuyển nhượng. Mức độ tự do chuyển nhượng cổ phần phụ thuộc vào tính chất của từng loại cổ phần. Với tính tự do chuyển nhượng cổ phần, cơ cấu cổ đông của công ty có thể thay đổi linh hoạt mà không ảnh hưởng đến sự tồn tại cũng như bản chất của công ty. Về huy động vốn: Đặc điểm về cấu trúc vốn của công ty cổ phần còn thể hiện ở khả năng huy động vốn bằng phát hành chứng khoán.
Công ty có thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ hoặc phát hành trái phiếu để tăng vốn vay (vốn tín dụng) theo quy định của Pháp luật. Về chế độ trách nhiệm tài sản: Công ty phải tự chịu trách nhiệm một cách độc lập về các nghĩa vụ tài sản bằng toàn bộ tài sản của công ty. Cổ đông không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty ngoài phạm vi giá trị cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Tuy nhiên, chế độ TNHH mà cổ đông được hưởng cũng kèm theo những ràng buộc nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba.
Theo Luật Doanh nghiệp, khi công ty thanh toán cổ phần mua lại hoặc trả cổ tức trái quy định thì tất cả cổ đông phải hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã nhận cho công ty. Nếu cổ đông không hoàn trả được thì cổ đông phải chịu trách nhiệm về nợ của công ty. 3 Về tư cách pháp lý: Công ty cổ phần là chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân. Theo Luật doanh nghiệp , công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Ưu điểm và nhược điểm Ưu điểm: Nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty. Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần. Nhà đầu tư có khả năng điều chuyển vốn đầu tư từ nơi này sang nơi khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác dễ dàng thông qua hình thức chuyển nhượng, mua bán cổ phần. Việc hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu.
Nhược điểm: Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế mà công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo quy định của luật pháp. Chi phí cho việc thành lập doanh nghiệp Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do công ty phải công khai và báo cáo với cổ đông. Khả năng thay đổi phạm vi lĩnh vực kinh doanh cũng như trong hoạt động kinh doanh không linh hoạt do phải tuân thủ theo những quy định trong điều lệ của công ty, ví dụ có trường hợp phải do đại hội đồng cổ đông của công ty, ví dụ có trường hợp phải do đại hội đồng cổ đông của công ty quyết định. Tổng quan về Marketing 1.
Khái niệm Marketing Marketing là gì?” là một câu hỏi khá thú vị không chỉ đối với những người mới làm quen thuật ngữ này mà còn làm “đau đầu” nhiều chuyên gia marketing. Nhiều người cho rằng, marketing là bán hàng, tiếp thị, quảng cáo, khuyến mãi,… Tuy nhiên, những thuật ngữ trên không thể nói hết hàm ý mà marketing muốn nói. Sau đây là những định nghĩa mang tính học thuật về marketing: Theo Phillip Kotler, Marketing là những hoạt động của con người hướng vào việc đáp ứng những nhu cầu và ước muốn của người tiêu dùng thông qua quá trình trao đổi. Viện Marketing Anh quốc cho rằng Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến sản xuất và đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận tối đa.
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, Marketing là một quá trình lập kế hoạch và thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của của hàng hoá, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động trao đổi nhằm thoả mãn mục đích của các tổ chức và cá nhân. Carthy, Marketing là quá trình nghiên cứu khách hàng là ai, họ cần gì và muốn gì, làm thế nào để đáp ứng nhu cầu của họ nhằm tạo ra lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp bằng cách: cung cấp sản phẩm/dịch vụ mà khách hàng cần, đưa ra mức giá khách hàng chấp nhận trả, đưa sản phẩm/dịch vụ đến với khách hàng, và cung cấp thông tin/giao tiếp với khách hàng. Khái niệm chiến lược Marketing Chiến lược Marketing có thể được hiểu như sau: “chiến lược Marketing là một hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ Marketing của công ty. Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các chiến lược mục tiêu, đối với phức hệ Marketing và mức phí cho Marketing”(theo Philip Kotler) Cũng có thể định nghĩa chiến lược Marketing thực chất là Marketing-mix và thị trường trọng điểm ( theo marketing thương mại): “Chiến lược là sự kết hợp đồng bộ mang tính hệ thống giữa marketing hỗn hợp (Marketing- mix) và thị trường trọng điểm.
Các tham số Marketing-mix xây dựng và hướng tới một nhóm khách hàng (thị trường trọng điểm) cụ thể. Khái niệm về Marketing- mix Marketing-mix: là tập hợp những yếu tố biến số mà công ty có thể kiểm soát và quản lý được. Hay nó chính là sự phối hợp hay sắp xếp các thành phần của Marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nếu tự sắp xếp, phối hợp tốt thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ rất thuận lợi và phát triển.
Do đó marketing-mix là tập hợp những công cụ Marketing mà công ty sử dụng để đạt được các mục tiêu trong một thị trường đã chọn. Các công cụ Marketing được pha trộn và kết hợp với nhau thành một thể thống nhất để ứng phó với những khác biệt và thay đổi trên thị trường. Có thể nói Marketing mix như là một giải pháp có tính tình thế của tổ chức. Mô hình Marketing - Mix.
Vai trò của Marketing 1. Vai trò của Marketing đối với kinh doanh của doanh nghiệp - Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với môi trường bên ngoài - thị trường.