Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệp thực tiễn về chiến lược marketing địa phương nhắm thu hút lấp đầy KCN trên địa bàn các tỉnh, thành phố. Chương 2: Thực trạng chiến lược marketing địa phương nhằm thu hút lấp đầy KCN tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chiến lược marketing địa phương thu hút đầu tư lấp đầy các KCN Hà Tĩnh giai đoạn đến năm 2025 tầm nhìn 2030. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT LẤP ĐẦY KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ 1.
Một số khái niệm và lý luận cơ sở 1. Một số khái niệm cốt lõi 1. Thị trường Thị trường là khái niệm cốt lõi của marketing có nhiều cách hiểu theo những quan điểm khác nhau. Theo quan điểm kinh tế, thị trường là nơi người mua gặp gỡ người bán.
Theo quan điểm marketing hàng hoá thông thường, thị trường là tập hợp những người mua hiện tại và những người sẽ sử dụng sản phẩm/dịch vụ trong tương lai. Do đó, quy mô thị trường gắn với số lượng người mua có thể mua/sử dụng sản phẩm/dịch vụ được cung cấp. Với marketing địa phương, thị trường được hiểu dưới góc độ rộng hơn, bao gồm tập hợp các nhà đầu tư (FDI, DDI) có nhu cầu và dự định tiến hành đầu tư vào một địa điểm tại một địa phương xác định nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lời cho nguồn vốn đầu tư, phù hợp với quan điểm và mục tiêu sử dụng vốn của mình. Thị trường tiềm năng trong marketing địa phương là khái niệm thể hiện mức độ thành công, hiệu quả cao khi tiến hành đầu tư vào địa phương.
Thông thường, nhà đầu tư luôn đặt ra những mục tiêu kinh doanh và lợi nhuận cần đạt được khi tiến hành đầu tư vốn tài chính hoặc công nghệ, quy trình vào địa phương. Thị trường tiềm năng là danh sách đã được chọn lọc những địa phương có thể thoả mãn được nhiều nhất mục tiêu của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, để hấp dẫn các nhà đầu tư, địa phương đồng thời cũng đánh giá và xác định nguồn lực cũng như những lợi thế cạnh tranh của mình để quảng bá tới nhà đầu tư. Thị trường tiềm năng dưới góc độ của địa phương là danh sách những nhà đầu tư với năng lực tài chính, khả năng chuyên môn và công nghệ thoả mãn được định hướng phát triển của địa phương.
Khách hàng và nhu cầu khách hàng Trong marketing hiện đại, khách hàng là đối tượng khách thể trung tâm của các hoạt động marketing. Nghiên cứu để xác định nhóm khách hàng mục tiêu cũng như nhu cầu cần được đáp ứng, sự hài lòng của nhóm khách hàng đóng vai trò quyết định sự thành công của một chương trình marketing. Việc 14 xác định và phân loại khách hàng trong marketing địa phương là giải pháp giúp tăng cường hiệu quả và tác động của chương trình marketing. Khách hàng trong marketing nhằm thu hút đầu tư bao gồm các nhà đầu tư nước ngoài (FDI) và trong nước (DDI) và được hiểu như là các thể nhân, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu và mong muốn, có năng lực kinh tế và pháp lý, có dự định hành vi thực hiện đầu tư vào một địa điểm đầu tư như là một loại hình sản phẩm của marketing địa phương xác định.
Khách hàng trong marketing địa phương bao hàm không chỉ các nhà đầu tư hiện hữu mà còn các nhà đầu tư tiềm năng. Vì vậy nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chủ thể marketing địa phương không chỉ là thu hút các khách hàng - nhà đầu tư tiềm năng mà như Philip Kotler chỉ ra nhiệm vụ quan trọng hơn là giữ gìn các khách hàng - nhà đầu tư hiện hữu thông qua cung ứng các giá trị và thỏa mãn khách hàng đặc sắc vượt trội so với kỳ vọng nhu cầu của họ và so với các chủ thể - đối thủ marketing địa phương khác. - Ở đây, nhu cầu của khách hàng là trạng thái thiếu hụt và mong muốn được sở hữu hoặc tiêu dùng một sản phẩm, dịch vụ của khách hàng. Marketing địa phương xác định nhu cầu khách hàng là mong muốn đầu tư khai thác kinh tế tại địa phương với kỳ vọng thu được lợi nhuận từ nguồn vốn đầu tư trong tương lai.
Các loại vốn đầu tư bao gồm đầu tư tài sản, vốn tài chính, vốn công nghệ, quy trình hoặc con người vào một địa điểm. Đây là sự kỳ vọng vào hiệu quả kinh tế với những hỗ trợ, ưu đãi từ địa phương mà nhà đầu tư/doanh nghiệp kỳ vọng nhận được từ địa phương. Khái niệm, phân loại và đặc điểm khu công nghiệp Khu công nghiệp là một lãnh thổ có giới hạn về địa lý lãnh thổ, trong đó tổ chức các hoạt động sản xuất công nghiệp cùng các hoạt động dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp. KCN theo đó là vùng lãnh thổ đặc biệt không có dân cư sinh sống, có bộ máy quản lý với chức năng quản lý hành chính với những cơ chế ưu đãi đặc biệt hơn so với các khu vực lãnh thổ có dân cư khác.
Các khái niệm về KCN đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam như: Quy chế KCN ban hành theo Nghị định số 192/NĐ-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ; Luật Đầu tư nước ngoài, năm 1996; Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/NĐ-CP ngày 24/2/1997 của Chính phủ; Luật Đầu tư số 59/2005/QH11, năm 2005 (số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015); gần nhất là Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính 15 phủ. Nghị định này định nghĩa KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. Mục đích sản xuất, mức độ mới - cũ, quy mô KCN, trình độ kỹ thuật KCN, chủ đầu tư của KCN, tính chất ngành công nghiệp là những tiêu chí chính được sử dụng để phân biệt tính chất, quy mô và mục tiêu giữa các KCN tại Việt Nam. Theo mục đích sản xuất, KCN được phân loại thành KCN và khu chế xuất (KCX).
KCN bao gồm các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Khu chế xuất là một dạng của KCN chuyên làm hàng xuất khẩu. Trên tiêu chí mức độ mới - cũ của KCN, có 3 loại KCN đang tồn tại ở Việt Nam là KCN cũ được xây dựng trong thời kì bao cấp (trước năm 1990); KCN được cải tạo và hình thành trên cơ sở một số xí nghiệp đang hoạt động; và KCN mới được hình thành. Phân chia theo tính quy mô, KCN được phân định thành KCN nhỏ, vừa và lớn.
Quy mô KCN có thể được phân định về giới hạn diện tích, tổng số vốn đầu tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng. KCN lớn hình thành trên quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ trong khi Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố có khả năng ra quyết định thành lập đối với các KCN có quy mô vừa và nhỏ. Phân loại theo tiêu chí trình độ kỹ thuật, KCN được phân loại thành KCN công nghệ bình thường và công nghệ cao. Dựa trên tiêu chí về chủ đầu tư, KCN được phân định thành (1) KCN chỉ có doanh nghiệp, chủ đầu tư trong nước; (2) KCN hỗn hợp giữa chủ đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước; (3) KCN 100% vốn đầu tư của nước ngoài.
Theo tính chất ngành công nghiệp, KCN được phân loại thành KCN chế biến nông, lâm, hải sản; KCN khai thác quặng, dầu khí, hóa dầu, điện tử, tin học; KCN điện, năng lượng; KCN phục vụ vận tải; KCN vật liệu xây dựng… Quy mô của các KCN không bị giới hạn về diện tích. Đối tượng tham gia chủ yếu các doanh nghiệp lớn, sử dụng công nghệ cao trong sản xuất. KCN được hình thành với đặc trưng riêng về địa giới hành chính cũng như mục tiêu hoạt động. Do vây, mỗi KCN được vận hành với mô hình tương tự như một doanh nghiêp.
Mỗi KCN có lĩnh vực hoạt động với mục tiêu, phương thức hoạt động, cách thức tổ chức… khác nhau, tùy theo khả năng tài chính, nhân sự và khả năng tổ chức của địa phương. Nhưng cấu trúc mô hình tổ chức chung nhất thường thấy ở các KCN là Ban quản lý KCN với các bộ phận chức năng liên quan. Theo hướng dẫn trong Thông tư liên tịch 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 03/9/2015, mô hình tổ chức của Ban quản 16 lý KCN bao gồm: Văn phòng Ban quản lý; các phòng chuyên môn, nghiệp vụ; văn phòng đại diện tại KCN, KKT; đơn vị sự nghiệp công lập (nếu có) theo quyết định của chính quyền địa phương phù hợp với tính chất, đặc điểm và yêu cầu quản lý của KCN. Ngoài ra, cấu trúc tổ chức phòng chuyên môn của Ban quản lý KCN có thể được bổ sung thêm phòng chức năng trong tình huống đặc biệt tùy theo tính chất của KCN đặt tại địa phương.
Do khách thể của nghiên cứu là các KCN tỉnh Hà Tĩnh gồm KCN độc lập và KCN thuộc khu kinh tế nên mục này đưa thêm khái niệm khu kinh tế. Khu kinh tế (KKT) là thuật ngữ chuyên ngành chỉ giới hạn về không gian địa lý để tổ chức các hoạt động kinh tế sản xuất hàng hóa và dịch vụ tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia. Các hoạt động kinh tế diễn ra trong KKT được Chính phủ bảo trợ, cho phép xây dựng và phát triển. KKT vận hành trong điều kiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong KKT phù hợp với cơ chế thị trường với nhiều ưu đãi hơn so với các khu vực khác; giao lưu với kinh tế quốc tế ít bị rào cản hạn chế về chính sách; ưu tiên hướng phát triển xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Thông thường, KKT được tổ chức thành các khu chức năng gồm: Khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng KKT. KKT tổng hợp hay KKT chuyên ngành thường là gắn với cảng biển hoặc một hải đảo có tiềm năng kinh tế lớn. Mặc dù là khu vận hành với không gian tách biệt, KKT phải là một bộ phận của lãnh thổ một quốc gia, thường có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương với các khu vực khác và hội tụ được những yếu tố phát triển cơ bản.