CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Với xu hướng phát triển toàn cầu hóa cùng sự khan hiếm các nguồn lực ngày một tăng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, nhu cầu của thị trường ngày càng khắt khe hơn từ đó làm môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp và biến động thường xuyên. Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững cần phải có chiến lược kinh doanh đúng đắn để nắm bắt cơ hội, tránh được những rủi ro. Các doanh nghiệp đều thấy được việc xây dựng chiến lược kinh doanh là nhiệm vụ hàng đầu.
Các tổ chức, doanh nghiệp lớn đầu tư rất nhiều thời gian để nghiên cứu nhằm đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp mình. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Porter (1980) nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh và xây dựng mô hình 5 lực lượng cạnh tranh đó là: Đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ tiềm ẩn, sản phẩm thay thế. Tác giả đã giới thiệu được ba chiến lược cạnh tranh phổ quát nhất đó là: Chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung trọng điểm, những chiến lược đã biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc. Ngoài ra tác giả còn định nghĩa cạnh tranh theo chi phí và giá tương đối và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới của tác giả về cách thức tạo ra và phân chia lợi nhuận.
Rất nhiều nhà quản lý ở các tổ chức và các tập đoàn, các nhà tư vấn, nhà phân tích đầu tư, sinh viên và các học giả khắp nơi trên thế giới đã cụ thể hóa những ý tưởng của Michael E.Porter và áp dụng chúng vào đánh giá cạnh trạnh của các ngành, để tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh và lựa chọn những chiến lược cạnh tranh phù hợp. Tác giả cũng đưa ra phương án giải quyết nhưng vấn đề cơ bản trong cạnh tranh theo cách riêng biệt với những phương pháp cạnh tranh mà các tổ chức, doanh nghiệp đã và đang sử dụng. 5 Levitt (1983) là một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực chiến lược kinh doanh quốc tế. Levitt tạo ra một cách tiếp cận mới về việc hiểu cách mà thị trường đang trải qua quá trình toàn cầu hóa và đồng nhất hóa.
Theodore Levitt nhấn mạnh rằng, do sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông, thị trường trên toàn cầu đang dần trở nên giống nhau. Các yếu tố văn hóa và địa lý không còn là rào cản lớn như trước đây. Những yếu tố này đang khiến cho người tiêu dùng trên khắp thế giới có xu hướng chuộng những sản phẩm và dịch vụ chuẩn hóa. Levitt đưa ra ví dụ về những sản phẩm như máy tính cá nhân, điện thoại di động, và thậm chí cả fast-food, khi chúng đã trở thành phổ biến trên toàn cầu mà không cần nhiều biến đổi để phù hợp với sở thích và nhu cầu của người tiêu dùng từ nhiều quốc gia khác nhau.
Nghiên cứu của Levitt đưa ra khái niệm về "tiêu chuẩn hóa quốc tế" (global standardization), mà theo ông, là một chiến lược quan trọng cho các công ty muốn tận dụng quy mô và giảm chi phí. Ông lập luận rằng việc sản xuất sản phẩm và dịch vụ có tính chuẩn hóa giúp tiết kiệm chi phí nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, và quản lý sản phẩm. Levitt cũng đề xuất rằng công ty nên tập trung vào việc tạo ra một thương hiệu mạnh trên toàn cầu để xây dựng lòng tin và uy tín với người tiêu dùng toàn cầu. Nghiên cứu này của Theodore Levitt đã giúp hiểu rõ hơn về cách thị trường đang thay đổi và sự cần thiết của việc thích nghi với quá trình hội nhập quốc tế.
Chiến lược tiêu chuẩn hóa quốc tế mà ông đề xuất vẫn có ảnh hưởng đáng kể đối với các công ty trong môi trường kinh doanh quốc tế ngày nay. Kim và Mauborgne (2004) nghiên cứu về cách mà một doanh nghiệp tạo nên giá trị, tác giả đã dẫn lối cho các doanh nghiệp làm thế nào để có thể cạnh tranh và sống sót trên thương trường khốc liệt hiện nay. Chính những quan điểm mới mẻ đã giúp các độc giả, nhất là những người kinh doanh biết cách thay đổi chiến lược của mình. 6 Tác giả cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp cần đổi mới giá trị theo Chiến lược Đại dương xanh.
Vì thị trường hiện nay đã có nhiều sự chuyển biến, doanh nghiệp cũng cần chuyển mình theo để tồn tại. Và sự thay đổi này không phải là thay đổi bằng cách tăng quy mô sản phẩm dịch vụ hay nâng cấp công nghệ. Mà thay đổi giá trị này là thay đổi hướng về chiến lược đại dương xanh. Doanh nghiệp sẽ chọn những thị trường đúng với châm ngôn của đại dương xanh theo đuổi.
Đây là cách vừa thay đổi giá trị vừa giảm thiểu mức độ cạnh tranh mà vẫn đạt được hiệu quả. David (2006) đã phân tích và đưa ra cách tiếp cận mới là cần tạo tính chủ động và sự khác biệt trong cạnh tranh. Việc xác định mục tiêu phù hợp với khả năng hiện có và triển vọng phát triển của doanh nghiệp, tiên lượng trước được nhu cầu của thị trường, phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý, nhận biết được các cơ hội và thách thức từ môi trường. Từ đó tạo ra các lợi thế cạnh tranh đặc biệt để có thể giành lợi thế trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
Ngoài ra doanh nghiệp cần chủ động điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình sao cho phù hợp với những thay đổi thường xuyên trong môi trường kinh doanh hiện nay. Theo nghiên cứu thì công tác quản trị chiến lược đem đến là sự chủ động, mang lại lợi thế nhất định trong các quan hệ cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp. Grunig và Kuhm (2007) xây dựng phương pháp hoàn chỉnh sử dụng kết hợp các công cụ quan trọng để phân tích và hoạch định chiến lược trong một quy trình tích hợp nhằm giúp việc xây dựng các chiến lược có tính thực tế và rõ ràng để đem lại sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp. Mục tiêu hướng đến của quản trị chiến lược là tạo được sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp.
Việc quản trị chiến lược có thể chia ra thành các bước như sau: Hoạch định chiến lược, triển khai chiến lược, và kiểm soát chiến lược. Việc hoạch định chiến lược đóng vai trò chủ yếu trong quản lý chiến lược vì nó tạo ra nền tảng cho hai các bước tiếp theo và là tiền đề tạo ra những chiến lược thành công. 7 Aaker (2003 đã nhận định muốn quản trị một doanh nghiệp cần phải có chiến lược kinh doanh cụ thể. Vấn đề đặt ra là có một hệ thống quản trị sẽ giúp nhà quản trị có thể bao quát và hiểu được môi trường kinh doanh của doanh nghiệp cũng như tầm nhìn về công việc của mình.
Từ đó đưa ra những giải pháp về chiến lược phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên lợi thế của mình. Nghiên cứu được chia thành bốn chủ đề cụ thể: Thứ nhất là phương pháp phân tích môi trường kinh doanh. Thứ hai là chọn lợi thế cạnh tranh lâu dài, gọi tắt là SCA và được lựa chọn trên cơ sở tổ chức và năng lực của doanh nghiệp. Thứ ba là quyết định đầu tư, cần phải biết chọn lựa khi nào thì đầu tư, khi nào không đầu tư và đầu tư ở mức nào.
Thứ tư là thực thi chiến lược. Để chiến lược thành công thì các nhà quản trị phải hiểu rõ hệ thống, cơ cấu tổ chức, con người và văn hóa của doanh nghiệp. Nghiên cứu của tác giả vừa hoạch định và thực hiện các chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp. Các chiến lược vạch ra định hướng tương lai cho doanh nghiệp, không chỉ xác định vị thế thị trường mục tiêu trong những năm tới mà còn xác định những lợi thế cạnh tranh chính yếu ở mức độ phối thức thị trường và nguồn lực.
Xây dựng chiến lược phát triển trong tương lai là nhiệm vụ quan trọng và phức tạp. Tác giả cũng trình bày quá trình khám phá xác định các chiến lược trong tương lai. Quá trình này được chia thành các bước cụ thể, các đề xuất chi tiết để giải quyết vấn đề và nhiều ví dụ cụ thể được minh hoạ trong từng bước của quá trình. Smith và cộng sự (2007) đã đưa ra khái niệm chiến lược và sách lược kinh doanh, cách phân tích môi trường kinh doanh trong các doanh nghiệp lớn và nhỏ khác nhau, tổ chức kiểm tra đánh giá việc thực hiện chiến lược, sách lược kinh doanh trong doanh nghiệp.
Tác giả còn đưa ra tầm quan trọng của 8 việc đào tạo cán bộ quản trị kinh doanh ở cấp doanh nghiệp có quy mô lớn cũng như quy mô nhỏ. Vì nguồn nhân lực luôn là yếu tố then chốt trong bất kỳ một chiến lược kinh doanh với bất kỳ quy mô nào. Các tổ chức cũng như doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược phát trển nhân sự để đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân, nhà quản lý có trình độ cao đáp ứng được nhu cầu cấp bách hiện nay. Điều này giúp tổ chức, doanh nghiệp nắm bắt cơ hội, tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh hiện nay.
Nghiên cứu của các tác giả trên đã làm rõ các vấn đề liên quan đến khái niệm cũng như nội dung cơ bản về chiến lược, chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp, quy trình xây dựng chiến lược của doanh nghiệp, việc sử dụng các công cụ để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tác động đến doanh nghiệp, việc xây dựng lên các chiến lược cụ thể và cách thức lựa chọn và triển khai chiến lược một cách hiệu quả và chính xác. Ngoài ra nghiên cứu của các tác giả đã cung cấp hệ thống lý thuyết, các tình huống trong xây dựng và triển khai chiến lược kinh doanh tại các doanh nghiệp, từ đó là cơ sở vững chắc về lý thuyết để tác giả tham khảo trong quá trình xây dựng và thực hiện luận văn này. Birkinshaw và Puranam (2019) đã nêu lên vai trò của sự biến đổi kỹ thuật số trong chiến lược kinh doanh quốc tế. Nghiên cứu này xem xét cách mà sự kỹ thuật số hóa ảnh hưởng đến cách các công ty quốc tế hoạt động và quản lý chiến lược của họ.
Birkinshaw và Puranam đã làm rõ tại sao kỹ thuật số hóa trở thành một thách thức và cơ hội quan trọng trong chiến lược kinh doanh quốc tế.