CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Khái niệm về chiến lược Có nhiều định nghĩa về chiến lược, mỗi định nghĩa ít nhiều có sự khác biệt tuỳ thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả. Chandler, một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược vào năm 1962 cho rằng “ Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của doanh nghiệp và sự chấp nhận chuỗi các hành động cùng phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này”.
Quinn, 1980: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu cơ bản, các chính sách và chuỗi các hành động của tổ chức vào trong một tổng thể dính kết chặt chẽ”. Sau đó, Jonson và Schole định nghĩa lại chiến lược trong môi trường biến đổi: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm dành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường ngànhh thay đổi, để đáp ứng được nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên hữu quan”.Porter, 1996: “ Thứ nhất, chiến lượt là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biết. Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh. Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cae các hoạt động cảu công ty”.
Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng có mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài. Chiến lược kinh doanh bao gồm không chỉ những gì doanh nghiệp muốn thực hiện mà còn là cách thức thực hiện những việc đó. Đó Luan van 7 là một loạt các hành động và quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau và lựa chọn phương pháp phối hợp những hành động và quyết định đó. Chiến lược của doanh nghiệp phải khai thác được những điểm mạnh cơ bản của mình (các nguồn lực và năng lực) và phải tính đến những cơ hội, thách thức của môi trường.
Quan điểm mới về cách tiếp cận chiến lược hiện nay “Chiến lược là tạo dựng một vị thế duy nhất và có giá trị nhờ việc triển khai một hệ thống các hoạt động khác biệt với những gì đối thủ cạnh tranh thực hiện”. Khái niệm về chiến lược kinh doanh(cấp đơn vị kinh doanh – SBU) Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể.Abelll, để xây dựng chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phải giải quyết ba vấn đề chính , đó là: (1) Nhu cầu khách hàng, hay điều gì được thoả mãn (What), (2) Các nhóm khách hàng hay ai được thoả mãn (Who), và (3) Các khả năng khác biệt hoá hay cách thức mà nhu cầu khách hàng được thoả mãn (How). Ba yếu tố quyết định này xác định cách thức mà một công ty sẽ cạnh tranh trong một hoạt động kinh doanh hay một ngànhh [1,tr. Khả năng khác biệt hóa Nhu cầu khách hàng là những mong muốn, đòi hỏi hay khao khát của khách hàng mà có thể sẽ được thoả mãn bằng các đặc tính của sản phẩm hay dịch vụ.
Sự khác biệt hoá sản phẩm là quá trình tạo một lợi thế bằng việc thiết kế sản phẩm. Các nhóm khách hàng và phân loại thị trường Quyết định cơ bản của mọi công ty liên quan đến chiến lược cấp đơn vị Luan van 8 kinh doanh. Đó là quyết định về thị trường mục tiêu để hướng sự phục vụ của mình các công ty phải chia khách hàng thành từng nhóm dựa trên các khác biệt về nhu cầu của họ. Quá trình đó được gọi là quá trình phân đoạn thị trường, nghĩa là phát triển những sản phẩm thích ứng với nhu cầu của mỗi phân đoạn và phục vụ tập trung, hay công ty chỉ tập trung vào một phân đoạn.
Ý nghĩa và vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh được xây dựng nhằm phát hoạ hay chỉ ra viễn cảnh của đơn vị trong tương lai, chiến lược cung cấp thông tin giúp doanh nghiệp phân tích và đánh giá sự biến động của các nhân tố chủ yếu bên ngoài cũng như đánh giá được khách quan những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp. Chiến lược đưa ra khung định hướng cho các nhà quản lý tư duy và hành động thống nhất trong chỉ đạo và thực hiện. Là kim chỉ nam cho sự tập hợp và thống nhất tất cả mọi nguồn lực và nhân tố trong đơn vị, tạo cơ sở để tăng sự liên kết và gắn bó giữa mọi thành viên trong đơn vị. Chiến lược giúp các nhà quản trị thấy rõ những cơ hội và nguy cơ xảy ra trong hiện tại và tương lai.
Từ đó tạo sự chủ động trong phòng ngừa và đối phó rủi ro, cũng như tận dụng các cơ hội và phát huy lợi thế của bản thân đơn vị. CÁC LOẠI CHIẾN LƯỢC CẤP ĐƠN VỊ KINH DOANH Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi đơn vị kinh doanh đều có thể tạo dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh, nếu nó thực hiện các bước đi hợp lý cho phép giành được vị trí hàng đầu trong việc hấp dẫn khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Các bước đi hay lộ trình mà mỗi đơn vị kinh doanh thực hiện có thể khác nhau nhưng điều cốt yếu là phải để khách hàng cảm nhận được giá trị vượt trội so với những gì mà đối thủ cung cấp. Luan van 9 Các đơn vị kinh doanh sẽ cố gắng một cách kiên định để tạo dựng lợi thế cạnh tranh thông qua một chuỗi vô hạn các chiến lược.
Chiến lượt cạnh tranh được thiết kế nhằm khai thác chuỗi giá trị và sức mạnh khác tạo ra lợi thế cạnh tranh. Nhu vậy, mỗi đơn vị kinh doanh sẽ cố gắng tạo dựng cho mình các chiến lược cụ thể phù hợp với các phân tích sức mạnh và điểm yếu bên trong, giá trị mà nó có thể cung cấp, môi trường bên ngoài và nhu cầu của khách hàng. Mặc dầu có rất nhiều chiến lược cạnh tranh khác nhau, song một cách khái quát lợi thế cạnh tranh được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản là chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Kết hợp hai hình thức cơ bản này của lợi thế cạnh tranh và phạm vi hoạt động của đơn vị kinh doanh sẽ hình thành nên các chiến lược cạnh tranh tổng quát đó là chiến lược khác biệt hoá sản phẩm, chiến lược hạ thấp chi phí, chiến lược chi phí tốt nhất và chiến lược tập trung.
Các chiến lược cạnh tranh này chính là sự kết hợp các quyết định khác nhau về các yếu tố nền tảng là sản phẩm, thị trường và năng lực phân biệt. Chiến lược chi phí thấp nhất Chiến lược chi phí thấp nhất là tổng thể các hành động nhằm cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ có các đặc tính được khách hàng chấp nhận với chi phí thấp nhất trong mối quan hệ với tất cả các đối thủ cạnh tranh. Với sự thành công của chiến lược chi phí thấp, các đơn vị kinh doanh sẽ có được hai lợi thế cạnh tranh: Thứ nhất: Đơn vị có thế đòi hỏi mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh mà vẫn có được cùng mức lợi nhuận bởi vì chi phí của nó thấp hơn. Thứ hai: Đơn vị có thể trụ vững hơn so với các đối thủ cạnh tranh, khi số lượng các đối thủ trong ngànhh tăng và buộc các đơn vị kinh doanh cạnh tranh giá, bởi vì nó có chi phí thấp.
Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm. Mục tiêu của chiến lược khác biệt hoá sản phẩm là để đạt được lợi thế Luan van 10 cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) mà được khách hàng nhận thấy là độc đáo về một vài tính quan trọng. Chính khả năng này cho phép đơn vị kinh doanh định giá vượt trội cho các sản phẩm, tăng doanh thu và đạt tỷ suất lợi nhuận trên trung bình. Mức giá tăng thêm của người tạo sự khác biệt về thực chất thường cao hơn mức giá mà người dẫn đạo chi phí đòi hỏi, và khách hàng sẵn lòng trả cho điều đó bởi họ tin vào chất lượng được khác biệt hóa của sản phẩm có giá trị phân biệt.
Thực chất khác biệt hóa sản phẩm là tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có đặc tính kỹ thuật nổi trội so với các đối thủ cạnh tranh. Đặc tính khác biệt của sản phẩm có thể là : chất lượng, đổi mới, độ tin cậy, đặc điểm kỹ thuật, dịch vụ kèm theo sản phẩm và rất nhiều yếu tố khác. Đơn vị theo đuồi chiến lượt này có khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng theo cách mà các đối thủ cạnh tranh khác không làm được. Do đó doanh nghiệp có thể đặt giá cao hơn trung bình nghành.
Khả năng tăng thu nhập bằng cách đặt giá cao cho phép đơn vị theo chiến lượt khác biệt vượt các đối thủ cạnh tranh và có lợi nhuận kinh doanh cao. Vì thế giá bán của sản phẩm, dịch vụ trong trường hợp này được tính trên cơ sở bao nhiêu và bao lâu thị trường còn chấp nhận được. Chiến lược tập trung. Khác với các chiến lược trên, chiến lược tập trung chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu cho một phân khúc thị trường nào đó, được xác định thông qua yếu tố độc đáo, nổi trội về tính chất, đặt điểm của sản phẩm hay yêu cầu, sở thích các nhóm khách hàng nhất định, sở thích của khách hàng.
Một chiến lược tập trung sẽ hướng vào khe hở thị trường cụ thể mà có thể xác định về phương diện địa lý, loại khách hàng hay bởi phân đoạn của tuyến sản phẩm. Việc chọn một khe hở bởi một loại khách hàng có thể là phục vụ chỉ cho người rất giàu, người rất trẻ tuổi, hay người rất thích phiêu lưu. Tập trung vào chỉ một phân đoạn sản Luan van 11 phẩm của tuyến sản phẩm chẳng hạn việc tập trung chỉ vào thực phẩm, rau quả hay chỉ với ô tô rất nhanh, một kiểu thiết kế quần áo hay kính mát. Trong khi theo đuổi chiến lược tập trung đơn vị kinh doanh phải cố gắng bằng cách nào đó thực hiện chuyên môn hóa.
Khi đã chọn phân đoạn thị trường, đơn vị kinh doanh thực hiện chiến lược này được sử dụng cách tiếp cận khác biệt hóa hoặc là tiếp cận chi phí thấp.