mở đầu vô cùng quan trọng trong toàn bộ quá trình quản trị chiến lược nói chung và hoạch định chiến lược nói riêng. Có 2 câu hỏi nền tảng được đặt ra đối với các nhà chiến lược của doanh nghiệp. Một là, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nào? hai là, vì sao doanh nghiệp chúng ta tồn tại và kinh doanh trong lĩnh vực đó? Trả lời cho câu hỏi thứ nhất yêu cầu doanh nghiệp phải xác định được nhiệm vụ kinh doanh của mình hoặc nới rộng ra là các 11 z hoạt động mà doanh nghiệp thực hiện. Còn câu hỏi thứ hai yêu cầu phải thể hiện được các mục tiêu mà doanh nghiệp theo đuổi.
Hai vấn đề được nêu ra trong Bản tuyên ngôn sứ mệnh của doanh nghiệp. Mục tiêu của nó là đưa ra bối cảnh để từ đó có các quyết định chiến lược. Nói cách khác, Bản tuyên ngôn sứ mệnh tạo ra trọng tâm và định hướng cho doanh nghiệp. Quá trình phân tích và phán đoán, lựa chọn, vận dụng và đánh giá chiến lược đều đi từ điểm xuất phát này.
Thông thường, Bản tuyên ngôn sứ mệnh xác định lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, nêu rõ tầm nhìn, mục tiêu theo đuổi và thể hiện các giá trị pháp lý, đạo đức kinh doanh cơ bản. NHÓM YÊU SÁCH BẢN TUYÊN NGÔN NHÓM HẬU THUẪN NỘI BỘ SỨ MỆNH BÊN NGOÀI * Ngành kinh doanh * Khách hàng * Ban giám đốc * Các cổ đông * Mục tiêu * Nhà cung ứng * Công đoàn * Triết lý kinh doanh * Chính quyền * Nhân viên * Các hiệp hội SOẠN THẢO CHIẾN LƯỢC Được định hướng bởi Bản tuyên ngôn sứ mệnh Hình 1.2 Mối liên hệ giữa sứ mệnh, chiến lược và các nhóm hậu thuẫn Trong khi xây dựng Bản tuyên ngôn sứ mệnh, các nhà chiến lược phải xem xét, cân nhắc cẩn thận ảnh hưởng của các nhóm hậu thuẫn cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Những mối quan hệ ràng buộc trên được thể hiện qua sơ đồ trên.1 Nhiệm vụ của doanh nghiệp Yếu tố đầu tiên của Bản tuyên ngôn sứ mệnh của doanh nghiệp là xác định rõ nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp. 12 z Lý do nào để doanh nghiệp ra đời, tồn tại và phát triển trong một xã hội.
Câu trả lời rất rõ ràng là doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động trong một ngành, lĩnh vực để thỏa mãn một nhu cầu nào đó và hoạt động đó có giá trị với xã hội. Nhiệm vụ của doanh nghiệp có thể được xem như một mối liên hệ giữa chức năng xã hội của doanh nghiệp với các mục tiêu nhằm đạt được của doanh nghiệp. Nhiệm vụ thể hiện sự hợp pháp hóa của doanh nghiệp. Như vậy, xác định nhiệm vụ của doanh nghiệp thực chất là xác định lĩnh vực kinh doanh.
Nhiệm vụ của doanh nghiệp thể hiện qua sản phẩm dịch vụ, thị trường và cũng có thể ở công nghệ chế tạo. Việc xác định nhiệm vụ của doanh nghiệp phải bảo đảm một số yêu cầu sau: - Nhiệm vụ xác định rõ ràng phải được thông báo cho toàn doanh nghiệp (bên trong) và công chúng bên ngoài biết; - Nhiệm vụ phải được xác định đúng đắn và hợp lý. Điều đó cho phép tạo ra định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp. - Phải thể hiện được tầm nhìn chiến lược của doanh nghiệp, tầm nhìn xa và rộng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
- Xác định nhiệm vụ của doanh nghiệp không được quá rộng và chung chung. Nếu nhiệm vụ xác định quá rộng có thể làm mất đi hình ảnh của doanh nghiệp và công chúng khó nhận biết doanh nghiệp. Trái lại, nhiệm vụ cũng không nên xác định quá hẹp. Điều đó có thể đưa doanh nghiệp vào ngõ cụt cho sự phát triển trong tương lai.
Việc xác định lĩnh vực kinh doanh phải trả lời được các câu hỏi: ngành kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia là gì? Nó sẽ là gì? Và nó phải trở thành cái gì? Câu trả lời rất đa dạng và khác nhau. Bởi vì có thể doanh nghiệp chỉ kinh doanh trong một lĩnh vực và doanh nghiệp cũng có thể tham gia nhiều 13 z lĩnh vực. Doanh nghiệp đơn ngành chỉ hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh chủ chốt, còn doanh nghiệp đa ngành kinh doanh với nhiều lĩnh vực, ít nhất là hai lĩnh vực kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, việc xác định lĩnh vực kinh doanh tương đối đơn giản.
Sản phẩm hoặc dịch vụ, thị trường và kỹ thuật nhìn chung là giới hạn đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa. Trong khi đó đa số doanh nghiệp có quy mô lớn tham gia trong nhiều lĩnh vực kinh doanh. Như vậy, việc xác định lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp đương nhiên là phức tạp hơn.2 Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp Theo nghĩa chung nhất, tầm nhìn và mục tiêu chiến lược thể hiện trong Bản tuyên ngôn sứ mệnh là lời phát ngôn rõ ràng tham vọng mà doanh nghiệp theo đuổi. Như vậy, mục tiêu chiến lược là những đích mong muốn đạt tới của doanh nghiệp.
Nó là sự cụ thể hóa mục đích của doanh nghiệp về hướng, quy mô, cơ cấu và tiến trình triển khai theo thời gian. Trong nền kinh tế thị trường, nhìn chung các doanh nghiệp theo đuổi ba mục đích chủ yếu. Đó là tồn tại, phát triển và đa dạng hóa. Cần phân biệt mục tiêu chiến lược cũng như mục tiêu chung của doanh nghiệp với dự báo.
Một dự báo là một chỉ dẫn cái có thể đạt được trong hoạt động tương lai có tính đến hoạt động quá khứ của doanh nghiệp. Dự báo trên sự tính toán, nhưng nhìn chung nó biểu hiện một xu hướng. Chẳng hạn, dự báo bán hàng để ước tính doanh số của doanh nghiệp. Cụ thể hơn là dựa vào mức bán của quá khứ và giả định môi trường ổn định, nghĩa là không bỏ thêm đối thủ nào trên thị trường và giá cả ổn định.
Trong khi đó mục tiêu thể hiện ý chí muốn vươn lên của doanh nghiệp và cần phải đạt được. Việc xác định các mục tiêu dựa vào doanh nghiệp đến chỗ năng động hơn, tự nguyện và có tổ chức hơn. 14 z Phân loại mục tiêu chiến lược Nhằm cụ thể hóa mục đích doanh nghiệp theo đuổi nhiều mục tiêu chiến lược và chúng tạo thành hệ thống mục tiêu chiến lược. Thông thường, đó là khả năng sinh lợi; hiệu suất; thỏa mãn người lao động và sự phát triển của họ; chất lượng sản phẩm; trách nhiệm xã hội; vị thế trên thị trường; tối đa hóa lợi tức cổ phần, kiểm tra được tài sản có; dễ dàng thích nghi.
Điểm lại như trên có đến 10 mục tiêu chiến lược. Nhưng điều đó không muốn nói rằng đa các doanh nghiệp theo đuổi cả 10 mục tiêu và đúng 10 mục tiêu như vậy. Điều đó chỉ muốn chứng tỏ một điều là các doanh nghiệp theo đuổi nhiều mục tiêu chiến lược. Hệ thống mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp được phân loại theo các căn cứ sau: - Ví trí thứ bậc của mục tiêu: theo cách này có mục tiêu hàng đầu và mục tiêu thứ cấp.
Với mọi doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường thì suy đến cùng mục tiêu hàng đầu - mục tiêu cốt tử là lợi nhuận. Các mục tiêu thứ cấp, theo P.Drucker là để cân bằng giữa các hành vi ngắn hạn với vấn đề dài hạn, thường là: thị phần, đổi mới năng suất, kết quả công việc và sự phát triển của bộ phận quản lý, thái độ của công nhân và trách nhiệm với xã hội; - Thời gian: có mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cân đối được vấn đề ngắn hạn và dài hạn là vô cùng quan trọng. - Các bộ phận, các nhóm khác nhau trong doanh nghiệp: gồm mục tiêu của các cổ đông; mục tiêu của ban giám đốc, mục tiêu của người lao động, mục tiêu của công đoàn; - Theo các loại chiến lược tương ứng: với loại mục tiêu sẽ được xem xét tới góc độ là mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp; mục tiêu của từng 15 z phân đoạn chiến lược hoặc còn gọi là đơn vị kinh doanh và mục tiêu theo các chức năng (thương mại, sản xuất, tài chính, nhân lực).
Các mục tiêu chiến lược chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: thực tế môi trường bên ngoài và các mối quan hệ với chúng, thực tế các nguồn lực của doanh nghiệp, hệ thống các giá trị và mục đích của những người lãnh đạo cao nhất cũng như các chiến lược mà doanh nghiệp đã theo đuổi trong quá khứ và xu hướng phát triển của nó. Điều đó thể hiện qua sơ đồ sau: Các lực lượng Các nguồn lực của môi trường bên trong Hệ thống mục tiêu chiến lược tương lai Các giá trị của Sự phát triển quá lãnh đạo cao cấp của doanh nghiệp Hình 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc xác định mục tiêu Việc phân tích khoảng cách khi xác định mục tiêu cũng vô cùng quan trọng. Hình sau đây minh họa cho điều đó. Chiến lược mới B Mục tiêu mong muốn A Khoảng cách Xác định lĩnh vực kinh doanh hiện tại t1 Chiến lược hiện tại t2 C Mục tiêu hiện tại Hình 1.4 Khoảng cách khi xác định mục tiêu 16 z Điểm A là mức thành tích ở thời điểm t1 của một doanh nghiệp.
Điểm B là mục tiêu mong muốn đạt tới của doanh nghiệp đó ở thời điểm tương lai t2. Nếu doanh nghiệp vẫn theo đuổi cùng chiến lược với những nhân tố ảnh hưởng không thay đổi, thì doanh nghiệp sẽ đạt được mục tiêu C ở thời điểm t2. Khoảng cách làm cho doanh nghiệp quan tâm tới là đi đến quyết định thay đổi chiến lược hoặc thay đổi mục tiêu chiến lược là độ dài BC. Như vậy, mục tiêu hiện tại cũng có thể coi là mục tiêu dự kiến, còn mục tiêu mong muốn là mục tiêu lý tưởng mà doanh nghiệp mong muốn đạt tới.
Tùy theo góc độ quan sát và cách tiếp cận mà có các phương pháp hình thành khác nhau các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Song dù tiến hành theo phương pháp nào thì việc xác định các mục tiêu phải bảo đảm được các yêu cầu sau: - Các mục tiêu phải xác định rõ ràng trong từng thời gian tương ứng và phải có các mục tiêu chung cũng như riêng cho từng lĩnh vực hoạt động. - Các mục tiêu phải đảm bảo tính liên kết tương hỗ nhau. Mục tiêu này không cản trở mục tiêu khác.
Chẳng hạn, không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ảnh hưởng đến mục tiêu thâm nhập thị trường mới. Cũng vậy phải kết hợp được hài hòa mục tiêu của các cổ đông, của nhà lãnh đạo, của tổ chức công đoàn, của người lao động nói chung - Phải xác định rõ được mục tiêu ưu tiên.