Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh. - Chương 2: Phân tích môi trường kinh doanh của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Hải Minh. - Chương 3: Lựa chọn chiến lược và giải pháp thực hiện. Tài liệu tham khảo.
4 CHUƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Những khái niệm, định nghĩa cơ bản của chiến lược kinh doanh Nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ kể từ khi Chủ nghĩa Tư bản ra đời, nó đánh dấu một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển của loài người. Lúc mới xuất hiện, sự hoạt động của các doanh nghiệp chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nhưng từ thập niên 60 trở lại đã có sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết quản trị hiện đại. Đó là sự tất yếu phải vận dụng khoa học trong quản lý.
Do sự phát triển theo nhiều hướng khác nhau của nhiều trường phái nên cũng có các cách tiếp cận chiến lược khác nhau. Thuật ngữ chiến lược đã được sử dụng trong quản lý do vai trò quan trọng của nó đối với việc tìm ra cách quản lý phù hợp và hiệu quả nhất. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược. Có thể kể đến một số quan niệm sau: - Theo Michael Porter thì: “Chiến lược là nghệ thuật tạo ra lợi thế cạnh tranh”.
- Alain Thretar lại cho rằng: "Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống lại sự cạnh tranh và dành thắng lợi". - Genral Aileret lại đưa ra quan niệm: "chiến lược là việc xác định những con đường và những phương tiện để đạt tới các mục tiêu đã được xác định thông qua các chính sách". Glueck, trong cuốn "Business Policy and Strategic Management" ông đã khẳng định: "chiến lược kinh doanh là một loại khoa học mang tính toàn diện, tính phối hợp và tính thống nhất được thiết kế nhằm đảm bảo các mục tiêu cơ bản của đơn vị kinh doanh sẽ được thực hiện tốt đẹp". - Tác giả cuốn "Chiến lược đưa ra quan niệm mang đầy tính toán học: chiến lược của doanh nghiệp là sự phác hoạ những quỹ đạo tiến triển đủ vững 5 và lâu dài, chung quanh quỹ đạo đó có thể sắp đặt những quyết định và những hoạt động chính xác của doanh nghiệp.
Birtell lại cho rằng: “chiến lược được định ra như là khoa học tổng quát dẫn dắt hoặc hướng dẫn công ty đi đến mục tiêu mong muốn, các khoa học này tạo cơ sở cho các chính sách và các thủ pháp tác nghiệp”. - Theo quan niệm của Alfred Chandle thì: “chiến lược kinh doanh bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản của đơn vị kinh doanh, đồng thời lựa chọn cách thức hay tiến trình hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Sở dĩ có nhiều cách tiếp cận như vậy là do các trường phái nhìn nhận chiến lược ở các hướng khác nhau, vị trí khác nhau nhưng đều thể hiện những vấn đề mà chiến lược kinh doanh bao hàm và phản ánh: - Mục tiêu chiến lược. - Phân tích đánh giá mục tiêu, doanh nghiệp tìm ra các giải pháp thích hợp để đạt được các mục tiêu.
Hiện nay, ở nước ta quan niệm đang được sử dụng rộng rãi là: “chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất kinh doanh, về tài chính và vấn đề giải quyết nhân tố con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển lên một trạng thái mới cao hơn về chất”. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh. Mục tiêu dài hạn là những thành quả xác định mà một tổ chức tìm cách đạt được khi theo đuổi nhiệm vụ chính của mình. Trong đó, mục tiêu hàng năm là những cái mốc mà các tổ chức phải đạt được để đạt đến các mục tiêu dài hạn.
Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh tổng thể được vạch ra dựa trên phát biểu tầm nhìn của doanh nghiệp, mang tính định hướng cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp và do đó mang tính chiến lược lâu dài. Quy trình xây dựng bao gồm các bước: 1. Xây dựng tầm nhìn chiến lược và sứ mạng kinh doanh 1. Xây dựng tầm nhìn chiến lược Tầm nhìn được hiểu như sau: "Một bản tuyên bố về tầm nhìn là một báo cáo nói về vị trí mà công ty bạn mong đạt được.
Bản tuyên bố tầm nhìn phác thảo ra tương lai của công ty bạn khi các bạn đạt được những mục tiêu và mục đích của mình. Các tuyên bố về tầm nhìn có thể khác biệt nhau về độ dài; có thể là một câu ngắn gọn, cũng có thể là một đoạn văn dài nhưng phải xác định được đích đến cuối cùng của bạn” (Nguồn Vietnam Learning). Như vậy, xây dựng tầm nhìn chiến lược chính là là việc doanh nghiệp xây dựng định hướng cho tương lai, thể hiện những ước muốn, bức tranh lý tưởng của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh về dài hạn. Tầm nhìn chiến lược đóng vai trò như kim chỉ nam, định hướng và dẫn dắt mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Từ định hướng trong tầm nhìn chiến lược, doanh nghiệp mới xây dựng các chiến lược trong từng giai đoạn nhằm từng bước hiện thực hóa được những lý tưởng đó. Sứ mạng kinh doanh Sứ mạng kinh doanh là một bản tuyên bố có mục đích thông báo sự tồn tại của Doanh nghiệp, trong đó xác định những giá trị và những quy tắc chi phối Doanh nghiệp và là một phần cốt yếu trong quá trình lên kế hoạch chiến lược. Các sứ mạng kinh doanh có thể khác nhau về độ dài và nói về việc kinh doanh, mục đích và các giá trị. Sứ mạng của công ty là lý do mà công ty tồn tại trên thị trường, bạn là ai và bạn sẽ mang lại cho khách hàng và cộng đồng những loại sản phẩm và dịch vụ gì.
Những quyết định trong quá trình lên kế 7 hoạch chiến lược và trong sự chi phối của công ty luôn luôn phải hài hòa với tuyên bố về sứ mạng kinh doanh của mình. Tuyên bố về sứ mạng là nền tảng cho tầm nhìn của công ty. Tuyên bố về sứ mạng kinh doanh hay có thể là động lực thúc đẩy nhân viên khi truyền tải những mục đích và giá trị của công ty tới khách hàng và cộng đồng. Phân tích môi trường bên ngoài Mục tiêu của việc phân tích môi trường bên ngoài là xác định được các cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp, phân tích để tìm cách triển khai và nên nắm bắt các cơ hội từ môi trường, đồng thời để tránh những thách thức cần thiết đối với doanh nghiệp.
Phạm vi và nội dung phân tích môi trường bao gồm: phân tích môi trường vĩ mô (môi trường tổng quát) và phân tích môi trường vi mô hay còn gọi là môi trường ngành. Phân tích môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô là môi trường trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm sáu phân đoạn: kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, nhân khẩu học, chính trị, pháp luật và toàn cầu. Những thay đổi trong môi trường vĩ mô có thể tác động trực tiếp đến bất kỳ lực lượng nào đó trong ngành, do đó có thể làm ảnh hưởng tương đối đến các thế lực khác và với chính nó, cuối cùng là làm thay đổi tính hấp dẫn của một ngành. Trong đó: - Môi trường chính trị - pháp luật (P) :Bao gồm hệ thống các quan điểm, chính sách của Nhà nước, hệ thống pháp luật, đặc biệt là các luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh; các diễn biến chính trị xảy ra trong nước và trên thế giới, các yếu tố liên quan đến chính trị và luật pháp.
- Môi trường kinh tế (E): là yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua các biến động của các biến số kinh tế vĩ mô cũng như tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô qua các công cụ điều tiết của Nhà nước. 8 Trạng thái của môi trường kinh tế vĩ mô xác định sự lành mạnh, thịnh vượng của nền kinh tế, luôn gây ra những tác động đến các doanh nghiệp và các ngành. Vì thế, doanh nghiệp phải nghiên cứu môi trường kinh tế để nhận ra các thay đổi, khuynh hướng và các hàm ý chiến lược của nó. - Môi trường văn hoá – xã hội (S): bao gồm các yếu tố văn hoá xã hội ảnh hưởng đến cuộc sống và hành vi của con người, qua đó, ảnh hưởng đến cơ cấu nhu cầu, tới hành vi mua sắm, khuynh hướng tiêu dùng của khách hàng doanh như thế nào cho phù hợp.
- Môi trường tự nhiên - công nghệ (T): bao gồm các yếu tố về môi trường tự nhiên và môi trường kỹ thuật – công nghệ quyết định sự ra đời của sản phẩm mới, hình thành phương thức kinh doanh, phương thức thoả mãn nhu cầu, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm lại, mục tiêu chính của phân tích môi trường vĩ mô là nhận diện các thay đổi, các khuynh hướng từ các yếu tố môi trường bên ngoài. Kết quả của việc phân tích môi trường bên ngoài sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp tổng hợp được những cơ hội và thách thức thực sự đối với doanh nghiệp của mình. Từ đó, các nhà quản trị doanh nghiệp có những cơ sở để tiến hành xây dựng và lựa chọn chiến lược phát triển một cách đúng đắn và khách quan.
Phân tích môi trường ngành Một ngành sản xuất hẹp hay ngành kinh tế kỹ thuật bao gồm nhiều doanh nghiệp có thể đưa ra các sản phẩm và dịch vụ giống nhau hoặc tương tự có thể thay thế được cho nhau. Nhiệm vụ của các nhà chiến lược là phải phân tích và phán đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác định các cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp của họ. Mô hình 5 lực lượng của Michael E. Porter, nhà lý luận và thực tiễn về chiến lược của Trường Quản trị kinh doanh Harvard, đã đề ra một khuôn khổ giúp các nhà quản trị nhận ra các cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp phải đương đầu trong một ngành (Michael E.
Porter, 9 Competitive Stratery, New York: Freepress, 1980). Khuôn khổ của Michael E.