mở đầu vô cùng quan trọng trong việc thực hiện quản trị kinh doanh theo chiến lƣợc. Các mục tiêu đƣợc xác định rõ ràng và cụ thể là điều quan trọng để doanh nghiệp đạt đƣợc thành công. Đánh giá môi trường bên ngoài Mục tiêu của việc đánh giá môi trƣờng bên ngoài là đề ra danh sách tóm gọn những cơ hội từ môi trƣờng mà doanh nghiệp nên nắm bắt, đồng thời là những nguy cơ cũng từ môi trƣờng đem lại, có thể gây ra những thách thức cho doanh nghiệp mà có cần phải tránh. Môi trƣờng bên ngoài của doanh nghiệp bao gồm môi trƣờng vĩ mô và môi trƣờng vi mô (môi trƣờng ngành).
Phân tích nội bộ doanh nghiệp Tất cả các tổ chức đều có thế mạnh và điểm yếu trong những bộ phận chức năng của nó. Sẽ không có một doanh nghiệp nào đều mạnh hoặc đều yếu nhƣ nhau trên mọi lĩnh vực. Những điểm mạnh/điểm yếu, những cơ hội/thách thức rõ ràng đem lại cơ sở cho việc hoạch định mục tiêu và chiến lƣợc. Đánh giá môi trƣờng nội bộ chính là việc rà soát, đánh giá các mặt của công ty, mối quan hệ giữa các bộ phận, chỉ ra những điểm mạnh cũng nhƣ điểm yếu mà công ty còn mắc phải, là tiền đề cho việc tận dụng và phát huy những mặt mạnh, hạn chế cần khắc phục và sửa chữa những điểm yếu đang tồn tại.
Phân tích nội bộ doanh nghiệp gồm có việc phân tích tài chính, phân tích chức năng. Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp cần phải sử dụng những số liệu từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong một số năm và so sánh các chỉ tiêu 13 này với nhau. Các chỉ tiêu có thể dùng để phân tích nhƣ tổng số vốn của doanh nghiệp, doanh thu, lợi nhuận. và các chỉ tiêu tổng hợp.
Phân tích chức năng Chức năng sản xuất trong hoạt động kinh doanh Chức năng Marketing và tiêu thụ sản phẩm Chức năng quản trị nguồn nhân lực Chức năng nghiên cứu phát triển Chức năng quản lý nguyên vật liệu Tất cả các doanh nghiệp đều có những điểm mạnh, điểm yếu trong các lĩnh vực kinh doanh. Những điểm yếu, điểm mạnh bên trong cùng những cơ hội, nguy cơ từ bên ngoài là những điểm cơ bản mà doanh nghiệp cần quan tâm khi xây dựng chiến lƣợc. Xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp là dựa vào sự so sánh với các doanh nghiệp khác trong ngành và dựa vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Điểm mạnh của doanh nghiệp là những điểm làm tốt hơn đối thủ, là những điểm mà đối thủ cạnh tranh không dễ dàng có đƣợc, nó tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Điểm yếu là những mặt hạn chế của doanh nghiệp, đó là những điểm doanh nghiệp cần điều chỉnh khi xây dựng chiến lƣợc. Xây dựng các phương án chiến lược Chiến lƣợc kinh doanh bao gồm các quyết định về sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng cần là gì? Nhóm khách hàng cần thỏa mãn là ai? Cách thức để thỏa mãn khách hàng nhƣ thế nào? Ba quyết định này đƣợc thể hiện cụ thể trong các hình thức chiến lƣợc của doanh nghiệp Chiến lƣợc hợp nhất hay liên kết theo chiều dọc doanh nghiệp tự đảm nhận sản xuất và cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất hoặc tự giải quyết khâu tiêu thụ. Chiến lƣợc đa dạng hóa có 3 hình thức đa dạng hóa đa dạng hóa chiều ngang, đa dạng hóa đồng tâm và đa dạng hóa “kết khối”. 14 Chiến lƣợc liên minh và hợp tác các doanh nghiệp hợp tác và liên doanh với nhau nhằm thực hiện những chiến lƣợc to lớn mà họ không thể tự mình cáng đáng nổi về tài chính cũng nhƣ ngăn chặn những nguy cơ đe dọa sự phát triển của họ.
Phân tích và lựa chọn chiến lược Mục tiêu của việc phân tích và lựa chọn chiến lƣợc chính là việc thiết lập nên các mục tiêu dài hạn và tạo ra các chiến lƣợc thay thế, lựa chọn ra trong số đó một vài chiến lƣợc theo đuổi. Phân tích chiến lƣợc và lựa chọn nhằm định ra hàng loạt những hành động mà nó có thể giúp cho công ty đạt tới sứ mệnh cũng nhƣ các mục tiêu mà nó đã đặt ra. Việc lựa chọn chiến lƣợc dựa trên các tiêu chuẩn nhƣ sau Tiêu chuẩn về mặt định lượng: chiến lƣợc kinh doanh thƣờng gắn với các chỉ tiêu số lƣợng nhƣ khối lƣợng bán, thị phần thị trƣờng, tổng doanh thu và lợi nhuận. Đây là những tiêu chuẩn thƣờng dễ đƣợc xác định.
Nói chung khi xác định các tiêu chuẩn định lƣợng, doanh nghiệp thƣờng sử dụng các tiêu chuẩn về khả năng bán hàng, khả năng sinh lợi. Tiêu chuẩn về mặt định tính: Không phải mọi phƣơng án chiến lƣợc kinh doanh đều có thể xác định các tiêu chuẩn định lƣợng, các nhà quản lý nhiều khi mắc sai lầm do lạm dụng các con số. Do vậy, bên cạnh các tiêu chuẩn định lƣợng còn phải có các tiêu chuẩn định tính để lựa chọn các phƣơng án kinh doanh. Đó là các tiêu chuẩn thế lực doanh nghiệp trên thị trƣờng, mức độ an toàn trong kinh doanh và sự thích ứng của chiến lƣợc với thị trƣờng.
Thực hiện chiến lược Đây là giai đoạn rất quan trọng để biến những chiến lƣợc đƣợc hoạch định thành những hành động cụ thể. Thực thi chiến lƣợc có ảnh hƣởng sâu rộng trong toàn doanh nghiệp, tác động tới cả các phòng ban và bộ phận chức năng. Đối với thực thi chiến lƣợc kỹ năng của mỗi cá nhân là vô cùng cần thiết. Thực thi chiến lƣợc bao gồm phát triển chiến lƣợc nhƣ ngân sách hỗ trợ, các chƣơng trình văn hóa công ty, kết nối với hệ thống động viên khuyến khích và khen thƣởng cán bộ công nhân viên.
Việc thực thi chiến lƣợc có thành công hay không không những chỉ phụ 15 thuộc vào chất lƣợng chiến lƣợc mà còn phụ thuộc vào khả năng thúc đẩy nhân viên của nhà quản trị. Kiểm tra và đánh giá việc thực hiện chiến lược Trong quá trình thực hiện chiến lƣợc cần phải thƣờng xuyên tổ chức kiểm tra xem xét các chiến lƣợc đó có đƣợc tiến hành nhƣ dự định hay không? Có nhiều nguyên nhân khiến cho một chiến lƣợc nào đó không thể đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Những nguyên nhân này do biến đổi về hoàn cảnh môi trƣờng hoặc do không thu hút đƣợc nguồn nhân lực. Do vậy cần thông qua các hệ thống thông tin phản hồi và các biện pháp kiểm tra để theo dõi đánh giá việc thực hiện.
Chiến lược kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền 1. Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ truyền hình trả tiền và ảnh hưởng của chúng đến việc xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ trả tiền Dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch vụ ứng dụng viễn thông để truyền dẫn, phân phối các kênh chƣơng trình, chƣơng trình truyền hình trả tiền và các dịch vụ giá trị gia tang trên hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đến các thuê bao truyền hình trả tiền theo hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc các thỏa thuận có tính ràng buộc tƣơng đƣơng. Dịch vụ truyền hình trả tiền có thể đƣợc cung cấp trực tiếp (dịch vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo yêu cầu) đến các thuê bao truyền hình trả tiền. Truyền hình trả tiền – PayTV là hình thức truyền hình có thu phí, do đó đặc điểm chính yêu cầu của phƣơng thức thực hiện truyền hình trả tiền là phải có khả năng đáp ứng đƣợc việc truyền dẫn đƣợc nhiều kênh truyền hình, các dịch vụ giá trị gia tang và đặc biệt là phải có khả năng quản lý các chƣơng trình đến từng đầu thu giải mã (cần có hệ thống khóa mã).
So với truyền hình quảng bá có sự khác biệt căn bản về nguồn thu chính (từ tiền thuê bao, không phải từ quảng cáo), về tính tƣơng tác, liên hệ mật thiết giữa ngƣời xem và nhà cung cấp chƣơng trình và việc đáp ứng hầu hết các nhu cầu về xem truyền hình của khán giả. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và kinh tế, lƣợng ngƣời xem truyền hình trả tiền trên thế giới tăng nhanh và xu thế phát triển truyền hình trả tiền là tất yếu. 16 Hiện nay trên thế giới có nhiều phƣơng thức thực hiện truyền hình trả tiền là truyền hình cáp (CATV), truyền hình số qua vệ tinh (DTH), truyền hình Internet,…; tuy nhiên truyền hình số mặt đất không thích hợp cho truyền hình trả tiền, chỉ thích hợp cho việc thay thế hệ thống truyền hình quảng bá hiện tại. Trên thế giới, truyền hình trả tiền hiện đang chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu so với các hình thức kinh doanh khác, nhiều nƣớc còn vƣợt cả doanh thu quảng cáo vì lợi thế của nó.
Thứ nhất, do phƣơng thức truyền dẫn là cáp và thu trực tiếp từ vệ tinh, truyền hình trả tiền có thể phục vụ đến từng khách hàng thuê bao với số kênh gần nhƣ không hạn chế và có thể cung cấp chƣơng trình theo yêu cầu, truyền hình trả tiền còn có nhiều nguồn thu từ các dịch vụ gia tang khác. Thứ hai, khả năng thu quảng cáo trên truyền hình quảng bá ngày càng hạn chế và đã bão hòa làm cho các nhà đầu tƣ trong lĩnh vực truyền thông ngày càng chú ý đến lĩnh vực truyền hình trả tiền với lƣợng khách hàng tiềm năng có thể nói là lý tƣởng. Chính vì những lý do đó ở nhiều nƣớc trên thế giới hầu nhƣ không có truyền hình quảng bá nhƣ ở Việt Nam mà chủ yếu là truyền hình trả tiền. Qua truyền hình trả tiền mỗi khán giả có thể mua để xem từng bộ phim, từng trận bóng đá mà họ yêu thích.
Kinh doanh truyền hình trả tiền ở các nƣớc phát triển còn rất thuận lợi nhờ luật bản quyền của họ đƣợc thực hiện nghiêm chỉnh. Các hãng truyền hình muốn sử dụng chƣơng trình của nhau phải trả tiền bản quyền. Truyền hình trả tiền trên thế giới đã bắt đầu thực hiện từ thế kỷ 20 và luôn phát triển gắn liền với những tiến bộ của viễn thông thế giới. Truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh cung cấp chƣơng trình cho những khách hàng đăng ký dịch vụ với mức thuê bao hàng tháng.
Truyền hình trả tiền có số chƣơng trình nhiều hơn so với truyền hình quảng bá, ngoài các chƣơng trình sản xuất trong nƣớc còn cung cấp các chƣơng trình của Đài truyền hình các quốc gia khác. Vậy chiến lƣợc kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền là một kế hoạch đƣợc hoạch định chi tiết để đạt đƣợc các mục tiêu cụ thể.