Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền Chương II: Thực trạng chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020 z 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN 1. Một số vấn đề lý luận về chiến lƣợc phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền 1. Khái niệm về chiến lƣợc - Chiến lược như là một kế hoạch, bởi vì chiến lược thể hiện một chuỗi các hành động nối tiếp nhau hay là cách thức được định sẵn để có thể đương đầu với hoàn cảnh. - Chiến lược như là một mô hình, vì ở một khía cạnh nào đó, chiến lược của một tổ chức phản ánh được cấu trúc, khuynh hướng mà người ta dự định trong tương lai.
- Chiến lược như là một triển vọng. Quan điểm này muốn đề cập đến sự liên quan của chiến lược với những mục tiêu cơ bản, thế chiến lược và triển vọng trong tương lai của nó. Đối với một doanh nghiệp chiến lược như là một hệ thống các quyết định nhằm hình thành các mục tiêu hoặc các mốc mà doanh nghiệp phải đi tới. Nó đề ra những chính sách và kế hoạch thực hiện các mục tiêu, nó xác định loại hình và tư tưởng kinh doanh của doanh nghiệp, tính chất của các đóng góp kinh tế và ngoài kinh tế mà doanh nghiệp có thể thực hiện vì lợi ích của các thành viên, của toàn xã hội.
Tóm lại, một cách đơn giản nhất, chiến lược được hiểu là những kế hoạch được thiết lập hoặc những hành động được thực hiện trong nỗ lực nhằm đạt tới mục đích của tổ chức. Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền - Dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch vụ ứng dụng viễn thông để truyền dẫn, phân phối các kênh chương trình, chương trình truyền hình trả tiền và các dịch vụ giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đến các z 9 thuê bao truyền hình trả tiền theo hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc các thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương. Dịch vụ truyền hình trả tiền có thể được cung cấp trực tiếp (dịch vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo yêu cầu) đến các thuê bao truyền hình trả tiền. - Truyền hình trả tiền – Pay TV là hình thức truyền hình có thu phí, do đó đặc điểm chính yêu cầu của phương thức thực hiện truyền hình trả tiền là phải có khả năng đáp ứng được việc truyền dẫn được nhiều kênh truyền hình, các dịch vụ giá trị gia tăng và đặc biệt là phải có khả năng quản lý được các chương trình đến từng đầu thu giải mã (cần có hệ thống khóa mã).
So với truyền hình quảng bá có sự khác biệt căn bản về nguồn thu chính (từ tiền thuê bao, không phải từ quảng cáo), về tính tương tác, liên hệ mật thiết giữa người xem và nhà cung cấp chương trình và việc đáp ứng hầu hết các nhu cầu về xem truyền hình của khán giả. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và kinh tế, lượng người xem truyền hình trả tiền trên thế giới tăng nhanh và xu thế phát triển truyền hình trả tiền là tất yếu. Hiện nay trên thế giới có nhiều phương thức thực hiện truyền hình trả tiền là: truyền hình cáp (CATV), truyền hình số qua vệ tinh (DTH), truyền hình Internet… nhưng chỉ có hai phương thức được khuyến nghị sử dụng và chứng tỏ được nhiều ưu điểm cũng như có tính tương hỗ nhau là truyền hình cáp CATV và truyền hình số qua vệ tinh DTH. Truyền hình số mặt đất không thích hợp cho truyền hình trả tiền, chỉ thích hợp cho việc thay thế hệ thống truyền hình quảng bá hiện tai.
Trên thế giới, truyền hình trả tiền hiện đang chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu so với các hình thức kinh doanh khác, nhiều nước còn vượt cả doanh thu quảng cáo vì lợi thế của nó. Thứ nhất, do phương thức truyền dẫn là cáp và thu trực tiếp từ vệ tinh, truyền hình trả tiền có thể phục vụ đến từng khách hàng thuê bao với số kênh gần như không hạn chế và có thể cung cấp chương trình theo yêu cầu, truyền hình trả tiền còn có nhiều nguồn thu từ các dịch vụ gia tăng khác. Thứ hai, khả năng thu quảng cáo trên truyền hình quảng bá ngày càng hạn chế và đã bão hòa làm cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực truyền thông ngày càng chú ý hơn đến lĩnh vực truyền z 10 hình trả tiền với lượng khách hàng tiềm năng có thể nói là lý tưởng. Chính vì những lý do đó ở nhiều nước trên thế thời hầu như không có truyền hình quảng bá như ở Việt Nam mà chủ yếu là truyền hình trả tiền.
Qua truyền hình trả tiền mỗi khán giả có thể đặt mua để xem từng bộ phim, từng trận bóng đá mà họ yêu thích. Kinh doanh truyền hình trả tiền ở các nước phát triển còn rất thuận lợi nhờ luật bản quyền ở họ được thực hiện nghiêm chỉnh. Các hãng truyền hình muốn sử dụng chương trình của nhau phải trả tiền bản quyền. Truyền hình trả tiền trên thế giới đã được bắt đầu thực hiện từ giữa thế kỷ 20 và luôn phát triển gắn liền với những tiến bộ của viễn thông thế giới.
Truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh cung cấp chương trình cho những khách hàng đăng ký dịch vụ với mức thuê bao hàng tháng. Truyền hình trả tiền có số chương trình nhiều hơn so với truyền hình quảng bá, ngoài các chương trình sản xuất trong nước còn cung cấp các chương trình của Đài truyền hình các quốc gia khác. Truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh nói chung khác nhau về kỹ thuật truyền tín hiệu đến từng máy thu. Vậy chiến lược phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền là một chương trình hành động chi tiết được hoạch định nhằm đạt được các mục tiêu.
Chiến lược bao gồm các vấn để: làm thế nào để tăng được thị phần, làm thế nào để đưa sản phẩm tốt nhất ra thị trường, làm thế nào để thỏa mãn khách hàng, làm thể nào để cạnh tranh thành công với các đối thủ, làm thế nào để đáp ứng với các điều kiện thay đổi của thị trường, thay đổi của công nghệ… nhằm mục tiêu phát triển dịch vụ thành công 1. Các loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền Các loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền được phân chia theo phương thức truyền dẫn phát sóng, bao gồm: - Dịch vụ truyền cáp: là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền chủ yếu sử dụng dịch vụ hạ tầng kỹ thuật mạng cáp với các công nghệ khác nhau để phân phối z 11 nội dung thông tin trên truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả tiền. - Dịch vụ truyền hình mặt đất kỹ thuật số: là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền chủ yếu sử dụng hạ tầng kỹ thuật mạng phát sóng truyền hình mặt đất kỹ thuật số (DVB-T) để phân phối nội dung thông tin trên truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả tiền. - Dịch vụ truyền hình trực tiếp qua vệ tinh: là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền chủ yếu sử dụng hạ tầng kỹ thuật phát sóng trực tiếp qua vệ tinh (DTH) để phân phối nội dung thông tin trên truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả tiền.
- Dịch vụ truyền hình di động: là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền chủ yếu sử dụng dịch vụ hạ tầng kỹ thuật mạng phát sóng truyền hình di động mặt đất kỹ thuật số, truyền hình di động vệ tinh kỹ thuật số hoặc mạng viễn thông di động để phân phối nội dung thông tin trên kênh truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả tiền. Trong năm 2009, thị trường toàn cầu của truyền hình trả tiền gồm khoảng 596 triệu thuê bao, mức gia tăng hàng năm là 6. Với hơn 440 triệu thuê bao, truyền hình cáp chiếm phần lớn số thuê bao. Tuy nhiên, điều quan trọng là xu hướng đi xuống của cáp trong thị trường truyền hình trả tiền mà cụ thể là cáp chiếm hơn 81.2% thuê bao trong năm 2006 và chỉ 74% trong năm 2009.
Ngược lại, vệ tinh lại gia tăng thị phần khi lượng thuê bao chỉ chiếm 17% vào năm 2006 tăng lên 20. Cùng thời gian này, IPTV có 23.5 triệu thuê bao, thị phần tăng từ 3. Cuối cùng, truyền hình mặt đất phát triển từ 3.7 triệu thuê bao vào năm 2006 đến 4.6 triệu thuê bao trong năm 2009, mức tăng trưởng gần 1% so với tổng lượng thuê bao. Việc tăng trưởng của truyền hình mặt đất trả tiền có thể giải thích do sự hỗ trợ mở rộng của truyền hình kỹ thuật số mặt đất (DTT) ở Châu Âu như Anh, Pháp và Ý, thậm chí là vùng Scandinavia.
z 12 Trong năm 2009, có 294 triệu hộ (hoặc hơn 49% tổng hộ thuê bao toàn cầu) thuê bao truyền hình trả tiền ở khu vực Châu Á/Thái Bình Dương. Châu Âu là vùng có số thuê bao lớn thứ hai (25.3%), theo sau là Bắc Mỹ (18.7%), Mỹ La Tinh (5. Trong giai đoạn 2006-2009, MEA và Mỹ La Tinh giữ kỷ lục về phát triển với mức gia tăng thuê bao theo thứ tự là 44. Trong các thị trường đã phát triển như Châu Âu và Bắc Mỹ, tốc độ tăng trưởng hàng năm theo thứ tự là 7.
Ở Châu Á / Thái Bình Dương, lượng thuê bao gia tăng hơn 20% từ 2006- 2009. Chiến lƣợc phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền 1. Mục tiêu phát triển chiến lƣợc * Mục tiêu tổng quát của chiến lược Mở rộng vùng phủ sóng truyền hình trả tiền trong nước nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh đảm bảo cung cấp cho đại đa số người dân trong nước các dịch vụ truyền hình đa dạng, phong phú, chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu và thu nhập của mọi đối tượng. Phát triển hạ tầng truyền dẫn, phát sóng đồng bộ, hiện đại, hiệu quả, thống nhất về tiêu chuẩn và công nghệ, đảm bảo có thể chuyển tải được các dịch vụ truyền hình, viễn thông và công nghệ thông tin trên cùng một hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu hội tụ công nghệ và dịch vụ.