phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh và xây dựng chiến lược trong doanh nghiệp. Chƣơng II: Phân tích môi trường kinh doanh của công ty TNHH MTV Dệt 19/5 Hà Nội. Chƣơng III: Xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty TNHH MTV Dệt 19/5 Hà Nội giai đoạn 2016- 2020 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG ĐỊNH HƢỚNG CHIẾN LƢỢC KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số vấn đề về chiến lƣợc kinh doanh 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh Chiến lược là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Strategos” dùng trong quân sự. Học giả Đào Duy Anh, trong từ điển tiếng việt đã viết chiến lược là các kế hoạch đặt ra để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận.
Năm 1962, Chander định nghĩa chiến lược là “việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và thực hiện các chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này” (Chandler, A. Strategy and Structure. Đến những năm 1980 Quinn đưa ra khái niệm “chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”. Strategies for Change: Logical Inerementalism.
Homewood, Illinois, Irwin). Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn các mong đợi của các bên hữu quan” (Johnson, G. Exploring Corporate Strategy, 5th Ed. Prentice Hall Europe).
Ngoài cách tiếp cận kiểu truyền thống như trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lược theo cách mới: chiến lược kinh doanh là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực, tài sản và tài chính nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. 9 Brace Henderson đưa ra khái niệm chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn. Michael Porter cũng tán đồng nhận định của Henderson là chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt.
Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập giá trị độc đáo. Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dùng theo ba ý nghĩa phổ biến nhất: Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp; đưa ra các chương trình hành động tổng quát; lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Việc xây dựng và thực hiện chiến lược thực sự đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu và là một nội dung, chức năng quan trọng của quản trị doanh nghiệp, nó đang được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp.
Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng: chiến lược kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp.2 Các đặc trưng của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Tính định hướng dài hạn: Chiến lược kinh doanh đặt ra những mục tiêu và xác định hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ dài hạn ( 3 năm, 5 năm) nhằm định hướng hoạt động cho doanh nghiệp trong một môi trường kinh doanh đầy biến động. Tính mục tiêu: chiến lược kinh doanh thường xác định rõ mục tiêu cơ bản, những phương hướng kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ và những chính sách nhằm thực hiện đúng mục tiêu đã đề ra. Tính phù hợp: Điều nay đòi hỏi các doanh nghiệp khi xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đồng thời phải thường xuyên rà soát và điều chỉnh để phù hợp với những biến đổi của môi trường.
10 Tính liên tục: chiến lược kinh doanh phải được phản ánh trong suốt quá trình liên tục từ khâu xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá đến điều chỉnh chiến lược. Chiến lược kinh doanh trong điều kiện ngày nay không thể nào tách rời khỏi cạnh tranh vì chiến lược kinh doanh một phàn đảm bảo cho doanh nghiệp có năng lực canh tranh trên thị trường. Trong quá trình toàn cầu hoá hiện nay, các hoạt động kinh doanh đã được kết nối ở khắp nơi trên thế giới tạo nên sự ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau. Từ đó đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong ngành cũng như giữa các ngành trong nền kinh tế.3 Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh giúp cho các doanh nghiệp nhận rõ được mục đích hướng đi của mình trong tương lai làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Chiến lược kinh doanh đóng vai trò định hướng hoạt động trong dài hạn của doanh nghiệp, nó là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp. Sự thiếu vắng chiến lược hoặc chiến lược được thiết lập không rõ ràng, không có luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp mất phương hướng, có nhiều vấn đề nảy sinh chỉ thấy trước mắt mà không gắn được với dài hạn hoặc chỉ thấy cục bộ mà không thấy được vai trò của cục bộ trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh giúp cho các doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thương trường kinh doanh. Chiến lược kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cường vị thế của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững. Chiến lược kinh doanh tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp để ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường.
Nó tạo ra cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển đào tạo bồi dưỡng nhân sự, hoạt động mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm. Trong thực tế phần 11 lớn các sai lầm trong đầu tư, công nghệ, thị trường… đều xuất phát từ chỗ xây dựng chiến lược hoặc có sự sai lệch trong xác định mục tiêu chiến lược. Cội nguồn của thành công hay thất bại phụ thuộc vào một trong những yếu tố quan trọng là doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh như thế nào.2 Quy trình xây dựng định hƣớng chiến lƣợc kinh doanh Quá trình hoạch định chiến lược của doanh nghiệp được khái quát qua mô hình sau: Xác định tầm nhìn, sứ mệnh, hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp Phân tích môi trường kinh doanh Phân tích nội bộ doanh nghiệp Hình thành và lựa chọn chiến lược Hình 1.1: Quy trình xây dựng định hướng chiến lược kinh doanh Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1.1 Xác định tầm nhìn, sứ mệnh, hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp 1.1 Xác định tầm nhìn chiến lược Tầm nhìn chính là bức tranh tổng thể về viễn cảnh tương lai mà doanh nghiệp hướng tới, nó đóng vai trò quan trọng trong quy trình hoạch định chiến lược của doanh nghiệp. Tầm nhìn dẫn dắt chiến lược và gợi mở những con đường chiến lược cho doanh nghiệp.
Nó gìn giữ cốt lõi của doanh nghiệp và duy trì những năng 12 lực cốt lõi. Nó hướng mọi người trong tổ chức về một mục tiêu xứng đáng và cao cả hơn cả mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận. Khuynh hướng “Tầm nhìn chiến lược” ngày càng trở nên phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh. Vai trò ngày càng tăng của tầm nhìn chiến lược thể hiện ở chỗ: tầm nhìn chiến lược là phương tiện tốt để kích thích hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, phi tập trung, nó hỗ trợ việc liên kết hoạt động của con người theo một hướng duy nhất; tầm nhìn chiến lược tạo ra viễn cảnh trong hoạt động của doanh nghiệp.
Một mục tiêu bất kỳ giới hạn khung hoạt động của doanh nghiệp, còn trong tầm nhìn chiến lược không có các đặc tính giới hạn này, nó tạo ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Sứ mạng là những tuyên bố của doanh nghiệp thể hiện chiết lý kinh doanh, mục đích ra đời và tồn tại cua doanh nghiệp. Sứ mạng được hiểu là lý do tồn tại, ý nghĩa của sự tồn tại và các hoạt động của tổ chức. Sứ mạng chiến lược thường mang tính ổn định và duy trì trong một thời gian dài.
Khi điều kiện và bối cản thay đổi, có thể điều chỉnh sứ mạng chiến lược. Sứ mạng được thể hiện dưới một bảng tuyên bố về sứ mạng của doanh nghiệp, nó thể hiện tới những niềm tin và hướng tới tầm nhìn của doanh nghiệp. Hệ thống mục tiêu chiến lược và yêu cầu của mục tiêu chiến lược. Hệ thống mục tiêu trong doanh nghiệp tuỳ thuộc vào từng thời kỳ, nó bao gồm mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn.
Mục tiêu dài hạn bao gồm: Thị phần của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp, năng suất lao động, vấn đề giải quyết công ăn việc làm và đời sống người lao động và một số lĩnh vực khác. Mục tiêu ngắn hạn thường đề cập đến lĩnh vực cụ thể và chức năng quản trị của doanh nghiệp. Để xác định mục tiêu đúng đắn và hợp lý doanh nghiệp cần căn cứ vào: căn cứ vào đối tượng hữu quan của doanh nghiệp: Khách hàng, chủ sở hữu, giới giám đốc, người lao động, nhà nước, cộng đồng xã hội; căn cứ vào lịch sử hình thành và 13 phát triển của doanh nghiệp; căn cứ vào quyết định của ban giám đốc điều hành doanh nghiệp và chủ sở hữu, căn cứ vào khả năng nguồn lực và các lợi thế của doanh nghiệp.