CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1 Khái niệm chiến lược và chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm chiến lược Thuật ngữ chiến lược ngày nay được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Đã có nhiều khái niệm chiến lược được đưa ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau. De Kluyver và Peace II (2003, trang 1) cho rằng “Chiến lược là việc định vị một tổ chức đối với các lợi thế cạnh tranh bền vững. Chiến lược liên quan đến sự lựa chọn ngành nào sẽ tham gia, cung cấp sản phẩm và dịch vụ gì, và làm thế nào đễ phân bổ nguồn lực doanh nghiệp.
Mục đích đầu tiên của chiến lược là tạo ra giá trị cho các cổ đông và các bên liên quan khác bằng cách cung cấp giá trị cho khách hàng”. Khái niệm này đề cập đến sự lựa chọn lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp có lợi thế so với đối thủ cạnh tranh và giá trị mà chiến lược mang lại cho các bên hữu quan. Trong khi đó, Thomson et al. (2006, trang 3) cho rằng “Chiến lược của một doanh nghiệp là kế hoạch trò chơi của quản lý để phát triển kinh doanh, tạo lập chỗ đứng trên thị trường, thu hút và làm thỏa mãn khách hàng, cạnh tranh thành công, tiến hành các hoạt động, và đạt được các mục tiêu dự tính”.
Theo đó, chiến lược là việc thực hiện một chuỗi các hành động để đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp. Như vậy, từ các khái niệm trên có thể hiểu chiến lược là việc xác định phương hướng, cách thức triển khai các chương trình hành động, phân bổ nguồn lực để cạnh tranh thành công và đạt được các mục tiêu tổ chức đặt ra.2 Khái niệm chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp, các nhà quản trị doanh nghiệp đều hiểu rằng nếu không có một chiến lược kinh doanh phù hợp thì doanh nghiệp sẽ khó tạo lập được chỗ đứng vững chắc trên thị trường. 5 Chandler (2003, trang 13) cho rằng “Chiến lược kinh doanh là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, cách lựa chọn phương hướng hành động và phân bổ nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu đó”. “Chiến lược là những phương tiện để đạt được các mục tiêu dài hạn.
Chiến lược kinh doanh có thể bao gồm sự mở rộng địa lý, đa dạng văn hóa, mua lại, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm ngân sách chi tiêu, tinh giảm, thanh lý, và liên doanh” (David, 1997, trang 11).3 Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát phát triển của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh khắc nghiệt như hiện nay, một số vai trò chính của chiến lược kinh doanh: - Là công cụ chia sẻ tầm nhìn của lãnh đạo doanh nghiệp đối với cấp dưới. Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình. - Thể hiện tính nhất quán và sự tập trung cao độ trong đường lối kinh doanh của công ty, tránh lãng phí nguồn lực vào các hoạt động không trọng tâm. - Là công cụ quản lý trong việc đánh giá tính khả thi, xác định mức ưu tiên, phân bổ nguồn lực cho các hoạt động kinh doanh một cách hợp lý hơn.
- Là cơ sở để xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh, có khả năng tự vận hành hướng tới các mục tiêu chiến lược đặt ra. - Là nền tảng để xây dựng kế hoạch kinh doanh chi tiết.4 Các yêu cầu khi xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh Khi xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp cần tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu để có thể đạt được các mục tiêu chiến lược đề ra. Nguyễn Thị Liên Diệp và Phạm Văn Nam (2010, trang 18-20) nêu ra 6 yêu cầu: Thứ nhất, chiến lược kinh doanh phải đạt được mục đích tăng thế lực doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh. Doanh nghiệp khi xây dựng chiến lược phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của doanh nghiệp mình, tập trung các biện pháp tận dụng thế mạnh chứ không dùng quá nhiều công sức cho việc khắc phục các điểm yếu.
6 Thứ hai, chiến lược kinh doanh phải đảm bảo sự an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp. Chiến lược khi xây dựng phải có vùng an toàn, trong đó khả năng rủi ro vẫn có thể xảy ra nhưng chỉ là thấp nhất. Thứ ba, phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu. Việc xác định phạm vi trong chiến lược kinh doanh phải đảm bảo sao cho khắc phục được sự dàn trải nguồn lực, hoặc tránh được tình trạng không sử dụng hết nguồn lực.
Thứ tư, phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai. Việc dự đoán này càng chính xác bao nhiêu thì chiến lược kinh doanh phù hợp bấy nhiêu. Thứ năm, phải có chiến lược dự phòng. Chiến lược kinh doanh là để thực thi tương lai trong khi tương lai là điều chưa biết, vì vậy khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến khả năng xấu nhất mà doanh nghiệp có thể gặp phải.
Sáu là, phải kết hợp độ chín muồi với thời cơ. Chiến lược kinh doanh không chín muồi thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ thất bại. Trên thực tế, có những chiến lược thất bại vì quá chín muồi, nguyên nhân do tư tưởng quá cầu toàn trong việc xây dựng chiến lược nên mất quá nhiều thời gian gia công các chi tiết, kỳ vọng có được một chiến lược hoàn hảo, điều đó dẫn đến việc khi xây dựng xong chiến lược và triển khai thì đã mất thời cơ.2 Quản trị chiến lược và các giai đoạn của quản trị chiến lược 1.1 Khái niệm quản trị chiến lược Có khá nhiều khái niệm quản trị chiến lược được đưa ra dựa trên các cách tiếp cận khác nhau. David (2001, trang 4-5) cho rằng “Quản trị chiến lược là khoa học và nghệ thuật về thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra.
Theo đó, quản trị chiến lược tập trung vào việc tích hợp quản lý, marketing, tài chính/kế toán, sản xuất/vận hành, nghiên cứu và phát triển, và hệ thống thông tin để đạt được thành công của tổ chức”. 7 “Quản trị chiến lược là một tiến trình liên tục và lặp đi lặp lại nhằm mục đích duy trì tổ chức như một khối thống nhất phù hợp với môi trường của nó” (Certo và Peter, 1991, trang 5). Theo định nghĩa này, quản trị chiến lược đòi hỏi những nhà quản lý tham gia vào một chuỗi các bước như thực hiện phân tích môi trường, thiết lập định hướng của tổ chức, hình thành chiến lược tổ chức, triển khai chiến lược, thực hiện kiểm soát chiến lược, và các công việc này phải được thực hiện liên tục trong tổ chức. “Quản trị chiến lược là một tiến trình kết hợp ba hoạt động chính có liên quan với nhau gồm phân tích chiến lược, hình thành chiến lược và triển khai chiến lược” (Dess và Miller, 1993, trang 9).
Pearce II và Robinson (1997, trang 3-4) nêu ra quan điểm “Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động dẫn đến việc hình thành và triển khai các kế hoạch được phát họa để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Quản trị chiến lược gồm 9 nhiệm vụ then chốt: (1) Thiết lập sứ mệnh của doanh nghiệp, bao gồm những bản tuyên bố rộng về các mục tiêu, triết lý và mục đích (2) Phát triển tiểu sử doanh nghiệp phản ánh những điều kiện và năng lực nội tại (3) Đánh giá môi trường bên ngoài của doanh nghiệp bao gồm cả các yếu tố cạnh tranh và bối cảnh chung (4) Phân tích các sự lựa chọn của doanh nghiệp bằng cách kết hợp nguồn lực doanh nghiệp với môi trường bên ngoài (5) Nhận dạng những sự lựa chọn mong muốn nhất bằng cách đánh giá mỗi lựa chọn trong quan điểm về sứ mệnh của doanh nghiệp (6) Lựa chọn một tập hợp các mục tiêu dài hạn và chiến lược tổng quát để đạt được các lựa chọn mong muốn nhất (7) Phát triển các mục tiêu hàng năm và các chiến lược ngắn hạn tương thích với tập hợp các mục tiêu dài hạn và các chiến lược tổng quát đã được lựa chọn (8) Triển khai các lựa chọn chiến lược bằng việc phân bổ ngân sách phù hợp với nhiệm vụ, con người, kỹ thuật và hệ thống đánh giá được nhấn mạnh (9) Đánh giá sự thành công của quá trình chiến lược như một đầu vào cho các quyết định tương lai”. “Quản trị chiến lược là một thuật ngữ rộng lớn hơn bao gồm việc quản lý không chỉ những giai đoạn thực sự được nhận biết mà còn những giai đoạn sớm hơn về việc xác định sứ mệnh và các mục tiêu của một tổ chức trong bối cảnh môi 8 trường bên trong và bên ngoài. Vì vậy, quản trị chiến lược có thể được xem như một chuỗi các bước trong đó quản lý cấp cao nên thực hiện các nhiệm vụ sau: (1) Phân tích các cơ hội và nguy cơ hoặc ràng buộc tồn tại trong môi trường bên ngoài (2) Phân tích điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức trong môi trường nội bộ (3) Thiết lập sứ mệnh và phát triển các mục tiêu của tổ chức (4) Hình thành chiến lược (ở cấp độ doanh nghiệp, cấp độ đơn vị kinh doanh và cấp độ chức năng) phối hợp điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức với cơ hội và nguy cơ từ môi trường (5) Triển khai chiến lược (6) Tham gia vào kiểm soát chiến lược để đảm bảo đạt được mục tiêu của tổ chức (Wright et al.
Các khái niệm trên đưa ra những quan điểm rất đa dạng về quản trị chiến lược, nhưng tổng hợp chung lại thấy rằng khái niệm quản trị chiến lược là một tập hợp các hoạt động được lặp đi lặp lại như nghiên cứu môi trường, thiết lập sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức, hình thành, triển khai và kiểm soát chiến lược để đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra nhằm tạo lập chỗ đứng vững chắc trên thị trường.2 Lợi ích của Quản trị Chiến lược “Quản trị chiến lược cho phép một tổ chức chủ động sáng tạo hơn nữa trong việc định hình tương lai của chính mình; Quản trị chiến lược cho phép một tổ chức khởi xướng và chi phối (hơn là chỉ phản ứng lại) các hoạt động, và do đó nổ lực kiểm soát đối với vận mệnh của mình” (David, 1997, trang 15).