CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Liên quan đến vấn đề đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và CSHT GTĐB nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này. Với tinh thần học hỏi, nghiên cứu kinh nghiệm, đồng thời nhằm tránh sự trùng lắp, trong quá trình triển khai luận án, tác giả đã có dịp tiếp cận với các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước như: 1. Tổng quan về nội dung, đặc điểm của cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ và huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Đỗ Đức Tú [69] trong nghiên cứu "Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030 theo hướng hiện đại” tác giả đã tổng kết và hệ thống được những quan niệm đã có về kết cấu hạ tầng và đưa ra một số quan niệm mới về kết cấu hạ tầng. Tác giả cho rằng: “Kết cấu hạ tầng là toàn bộ những cơ sở vật chất – kỹ thuật nền tảng, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội và cuộc sống sinh hoạt của con người, bao gồm các công trình giao thông vận tải (GTVT); hệ thống cấp điện; hệ thống cấp nước; hệ thống thoát nước và xử lý nước thải, rác thải; hệ thống thông tin liên lạc, truyền thông; các cơ sở y tế, giáo dục; các có cơ sở vui chơi, giải trí công cộng,… và gắn liền với nó là những quy tắc hay cơ chế vận hành nhất định”? Từ đó tác giả kêt luận rằng: “KCHT giao thông là những cơ sở vật chất kỹ thuật nền tảng như đường xá, cầu cống, sân bay, bến cảng,… được con người xây dựng lên nhằm đảm bảo cho việc di chuyển, đón trả khách và bốc xếp hàng hóa của các loại phương tiện giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn”.
Tác giả còn chỉ ra các đặc tính của kết cấu hạ tầng giao thông; và vai trò của kết cấu hạ tầng giao thông đối với phát triển kinh tế - xã hội như: Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân; Tác động phân bố lại dân cư. Hồ Thị Hương Mai [39], trong nghiên cứu “Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội” tác giả đã hệ thống hóa 11 được cơ sở lý luận về QLNN liên quan vốn đầu tư trong phát triển KCHT giao thông đô thị, đặc biệt tác giả có đưa ra các tiêu chí đánh giá QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHT giao thông đô thị và phân tích nội dung QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHT giao thông đô thị bao gồm từ khâu lập kế hoạch, tổ chức huy động, phân bổ, thanh, quyết toán và kiểm tra, kiểm soát vốn đầu tư phát triển KCHT giao thông đô thị. Bùi Việt Hưng [34], trong nghiên cứu “Quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội”, tác giả đã chỉ ra khái niệm “đầu tư” là nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản nhằm tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư với mục đích thu được kết quả lớn hơn các chi phí đã bỏ ra hoặc phát triển lợi ích công cộng. Khi mà kết quả đầu tư mà cho cả nền kinh tế và xã hội được thụ hưởng, làm gia tăng năng lực sản xuất, tạo tiền đề cho sự phát triển KTXH thì gọi là đầu tư phát triển.
Ngoài ra, tác giả chỉ ra nguồn vốn đầu tư phát triển KCHT GTĐB bao gồm nguồn vốn trong nước và ngoài nước. Trong đó: Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn nhà nước, vốn của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, vốn trên thị trường vốn. Vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư trực tiếp FDI, vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, vốn vay thương mại nước ngoài, vốn trên thị trường vốn quốc tế. Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra các đặc điểm của vốn đầu tư phát triển KCHT GTĐB từ NSNN là: (i) Khối lượng vốn đầu tư từ NSNN lớn; Vốn đầu tư từ NSNN không có khả năng thu hồi trực tiếp; (ii) Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn cấp phát trực tiếp từ NSNN không hoàn lại; (iv) Kết quả của đầu tư bằng vốn NSNN chủ yếu phục vụ lợi ích công cộng; (v) Vốn đầu tư từ NSNN địa phương luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu phát triển KTXH của địa phương; (vi) Vốn đầu tư từ NSNN địa phương do địa phương quản lý, sử dụng; Vốn đầu tư từ NSNN được thực hiện thông qua cơ chế ủy nhiệm; (vii) Vốn đầu tư từ NSNN có nguy cơ bị lãng phí, thất thoát.
12 Nguyễn Thị Thúy Nga [41] trong nghiên cứu “Huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương” đã đưa ra khái niệm CSHT GTĐB bao gồm toàn bộ điều kiện vật chất kỹ thuật như: Hệ thống cầu, đường bộ, các công trình, thiết bị phụ trợ, các trạm nghỉ đường bộ và thể chế chính sách quản lý cũng như môi trường hoạt động gắn với GTĐB để đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH. Tác giả cũng chỉ ra quan niệm vốn đầu tư phát triển CSHT GTĐB là giá trị một bộ phận của cải xã hội được tích luỹ lại sau một thời gian nhất định dùng để đầu tư duy trì, nâng cấp và phát triển CSHT GTĐB phục vụ phát triển KTXH của đất nước. Đồng thời, tác giả này cũng đưa ra tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng các công trình cầu, đường bộ mang tính gián tiếp và được đánh giá thông qua các chỉ tiêu KT-XH Dương Văn Thái [60] trong nghiên cứu “Huy động vốn cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” tác giả đã đưa ra khái niệm vốn đầu tư phát triển KCHT GTĐB là những chi phí bỏ ra nhằm cải tạo, nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới hệ thống KCHT GTĐB với mục đích tạo ra hệ thống KCHT GTĐB hiện đại, đồng bộ, thuận lợi cho quá trình giao thương kinh tế và đi lại của các tầng lớp nhân dân. Tác giả cũng chỉ ra đặc điểm của loại vốn này là: (i) Xây dựng KCHT GTĐB cần nhiều vốn, thời gian đầu tư xây dựng dài, thời gian thu hồi vốn chậm; (ii) Cùng một loại công trình KCHT GTĐB nhưng địa điểm xây dựng khác nhau thì lượng vốn tiêu hao cũng khác nhau; 13 (iii) Do yêu cầu đồng bộ của hệ thống KCHT GTĐB nên việc bố trí vốn đầu tư phát triển phải bảo đảm tính đồng bộ; (iv) Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển các công trình KCHT GTĐB thường được nhìn nhận ở hiệu quả KTXH; (v) Kết cấu vốn đầu tư phát triển của một công trình GTĐB hết sức phức tạp; (vi) Việc thất thoát, lãng phí vốn đầu tư phát triển là lớn.
Tác giả phân loại nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển KCHT GTĐB là nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Bùi Văn Khánh [35] trong nghiên cứu “Huy động nguồn lực tài chính xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình”, tác giả đã đưa ra khái niệm về đầu tư phát triển CSHT GTĐB là việc đầu tư nguồn lực nhằm cải tạo, nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới hệ thống CSHT GTĐB với mục đích tạo ra hệ thống CSHT GTĐB hiện đại, đồng bộ, thuận lợi cho quá trình thông thương kinh tế và đi lại của nhân dân phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Từ khái niệm đó, tác giả đã chỉ ra các kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển CSHT GTĐB, trong đó tác giả nhấn mạnh vốn nhà nước và trên cơ sở đó tác giả phân tích thực trạng huy động các nguồn lực tài chính phát triển hệ thống cầu, đường bộ trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2001 đến 2010. Hoàng Cao Liêm [36] trong nghiên cứu “Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ Ngân sách nhà nước tại tỉnh Hà Nam” đã tiếp cận hoạt động huy động vốn cho đầu tư xây dựng CSHT GTĐB từ nguồn ngân sách địa phương là tỉnh Hà Nam dưới góc độ quản lý kinh tế.
Tác giả đã đưa ra khái niệm về vốn đầu tư xây dựng CSHT GTĐB từ ngân sách nhà nước (NSNN) là phần lớn từ vốn NSNN để góp phần phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật, KT-XH của địa phương. Từ đó, tác giả đưa ra đặc điểm của vốn đầu tư phát triển CSHT GTĐB thường có thời gian đầu tư xây dựng kéo dài. Tác giả xác định nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng GTĐB bao gồm: (i) Xây dựng quy hoạch và kế hoạch đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN; 14 (ii) Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về quản lý đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN; (iii) Tổ chức bộ máy quản lý về đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN; thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN. Phan Thanh Mão [40], trong nghiên cứu “Giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An” tác giả đã hệ thống hóa và chỉ ra những vấn đề lý luận về chi NSNN, đầu tư xấy dựng cơ bản (XDCB) từ NSNN, hiệu quả đầu tư XDCB từ NSNN.
Vấn đề hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN đã được tác giả nghiên cứu từ khái niệm hiệu quả vốn đầu tư XDCB. Tuy vậy, tác giả chưa đưa ra những chỉ tiêu sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn huy động được để phát triển CSHT GTĐB của một tỉnh. Nguyễn Xuân Cường [21] trong nghiên cứu “Đa dạng hóa vốn đầu tư xây dựng giao thông đường bộ ở Việt Nam” đã đưa ra các khái niệm về vốn đầu tư phát triển CSHT GTĐB là một bộ phận nguồn lực của xã hội được biểu hiện bằng tiền được tích lũy lại sau một thời gian nhất định để đưa vào đầu tư xây dựng, bảo trì, cải tạo và nâng cấp phát triển hệ thống đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.