Chương 1. Bên cạnh đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đa dạng hóa dịch vụ TTĐT của BIDV chi nhánh TP. Chương 3: Giải pháp đa dạng hóa dịch vụ TTĐTcủa BIDV tại chi nhánh TP. Nội dung Chương 3 sẽ dựa vào đánh giá kết quả hoạt động đa dạng hóa dịch vụ TTĐT của BIDV chi nhánh TP.
HCM để đưa ra các giải pháp phủ hợp cho BIDV chi nhánh TP. HCM và một số để xuất cho BIDV. CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE DA DANG HOA DICH VU TTĐT 1. Téng quan vé dich vu thanh toan dién tir 1.
Khái niệm dịch vu thanh toán điện tứ Thanh toán điện tử có thể được định nghĩa theo nghĩa rộng là thanh toán được bắt đầu, xử lý và nhận được các khoản TTĐT. Phạm vị bao gồm các dịch vụ TTĐT hỗ trợ các giao dịch thương mại điện tử (Doanh nghiệp với người tiêu dùng - business to consumer, B2C) hoặc TTĐT giữa những người tiêu dùng (người với người - person to person, P2P) va tao thành những khái niệm mới, vượt ra ngoài các công cụ thanh toán truyền thống được cung cấp bởi ngành ngân hàng (European central bank, 2004). Theo Suman va Divakara (2015), TTDT là một giao dịch tài chính dién ra trực tuyến giữa người mua và người bán. Nội dung của giao dịch này thường sử dụng một số công cụ tài chính số (như thẻ tín dụng số được mã hoá, séc điện tử hoặc tiền mặt kỹ thuật số) được hỗ trợ bởi ngân hàng hoặc đơn vị trung gian hoặc bên nhận thanh toán hợp pháp.
Thuật ngữ “thanh toán điện tử” là cụm từ tập hợp cho nhiều loại công cụ TTĐT khác nhau (nghĩa là thanh toán trực tuyến), xử lý các giao dịch và ứng dụng thanh toán qua các trang web của các nhà kinh doanh trực tuyến và thương mại điện tu (Suman va Divakara, 2015). Một khái niệm khác, TTĐT là hình thức mà người mua và người bán có cam kết tài chính với nhau thông qua các phương tiện điện tử (David, 2004). Như vậy, qua các khái niệm trên có thể hiểu TTĐT là một giao dich tai chinh diễn ra trực tuyến giữa các các nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với doanh nghiệp, được hỗ trợ bởi ngân hàng hoặc đơn vị trung gian hoặc bên nhận thanh toán hợp pháp bằng việc sử dụng các phương tiện điện tử. Các công cụ TTĐT Có sáu công cụ TTĐT của ngân hàng như sau: Một là, thanh toán bằng thẻ.
Trong đó bao gồm: - Thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ có được một hạn mức tín dụng để vay tiền thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ. Tài khoản của thẻ tín dụng là tài khoản tín dụng xoay vòng. Các thương hiệu cung cấp thẻ tín dụng là AMEX, Diners Club, MasterCard, Visa (Lupu và cộng sự, 2016). - Thẻ ghi nợ: Thẻ ghi nợ được liên kết trực tiếp với tài khoản thanh toán của người dùng.
Thẻ ghi nợ yêu cầu nhập mã PIN khi sử dụng tại các điểm thanh toán (Point of Sale-POS), cho thấy rằng giao dịch qua thẻ ghi nợ an toàn hơn thẻ tín dụng bằng cách bắt buộc thực hiện xác thực hai lớp như một phương pháp để xác nhận danh tính của chủ thẻ. Nhiều nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ cũng cho phép lựa chọn thanh toán trực tuyến bằng thẻ ghi nợ thông qua dịch vụ thanh toán liên kết với nhà cung cấp thẻ và trong các trường hợp này, người tiêu dùng phải nhập mật khâu đề xác thực (Lupu và cộng sự, 2016). - Thẻ trả trước: Thẻ này có thể sử dụng để mua sắm như thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng; điểm khác biệt chính là cần phải nạp tiền vào tài khoản thẻ trước và chỉ được chi tiêu trong giới hạn của tài khoản này. Thẻ trả trước có tính an toàn cho người tiêu dùng và dễ tiếp cận đối với những người chưa từng tiếp cận dịch vụ ngân hàng, vì vậy đây là một công cụ thanh toán phổ biến đối với một số quốc gia và nhóm khách hàng nhỏ tuổi chưa được tiếp cận thẻ tín dụng (Lupu và cộng sự, 2016).
Hai là, ví điện tử: Ví điện tử là một công cụ để người dùng lưu trữ tiền, có thể dưới dạng kỹ thuật số hoặc là ví vật lý. Ví điện tử có chức năng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, cho phép tiếp cận tới nhiều công cụ thanh toán khác như chuyên tiền qua ngân hàng trực tuyến. Một số ví điện tử cho phép người sử dụng nạp tiền vào trong ví, cung cấp trải nghiệm thanh toán tốt hơn và đơn giản hóa việc thanh toán trực tuyến và thanh toán di dộng Lupu và cộng sự, 2016). Ba là, thanh toán điện tử qua ngân hàng trực tuyến (The Online Banking e- Payments-OBeP): Thanh toán điện tử qua ngân hàng trực tuyến là một loại mạng lưới thanh toán được thiết kế dé thực hiện các giao dịch chuyển tiền trực tuyến giữa các ngân hàng.
Người dùng được xác thực ngay lập tức bởi tổ chức tài chính của họ, họ được phép sử dụng một số tiền ngay lập tức và tô chức tài chính của họ đảm bảo thanh toán cho bên bán hàng (Lupu và cộng sự, 2016). Bốn là, thanh toán ghI nợ trực tiếp: Ghi nợ trực tiếp thực hiện khi người bán nhận được ủy nhiệm của người mua thì người bán sẽ khởi tạo quy trình thanh toán. Thanh toán này được thực hiện tự động thông qua các ngân hàng với nhau, thường được ding để thu các khoản định kỳ như tiền điện, nước, học phí, cước điện thoại,. Các ngân hàng giao tiếp trực tiếp với nhau để tiến hành thanh toán thông qua việc người mua có sự ủy nhiệm cho người bán, ủy nhiệm này bao gồm một xác nhận rõ ràng của ngân hàng cho biết người mua đang ủy nhiệm cho người bán ghi nợ vảo tài khoản của người mua (Lupu và cộng sự, 2016).
Năm là, thanh toán bằng tin nhắn điện thoại (SMS Banking): SMS Banking ngoài cho phép khách hàng chuyên tiền còn có thể truy cập được nhiều dịch vụ ngân hàng như truy vấn số dư tài khoản, xem lịch sử giao dịch, vấn tin tỷ giá và lãi suất, thông báo về giao dịch hiện tại,. Đề sử dụng từng dịch vụ, khách hàng phải soạn tin nhắn theo đúng cú pháp cho từng dịch vụ (Vijayasarathi, 2016) Sáu là, thanh toán tại Kiosk (Kiosk Banking): Theo Vijayasarathi (2016), Kiosk Banking là kênh phân phối dịch vụ ngân hàng thông qua các kiosk đặt tại các nơi công cộng hoặc tại các cơ sở kinh doanh. ĐỀ sử dụng kiosk banking, khách hàng phải có thẻ ngân hàng hoặc có đăng ký sử dụng dịch vụ Internet Banking. Khách hàng có thể sử dụng hầu hết các giao dịch ngân hàng tại kiosk, trong đó có thanh toán và chuyên tiền.
Kiosk Banking được tận dụng để cung cấp dịch vụ tài chính cho người thu nhập thấp và người ở nông thôn, là nơi có ít chỉ nhánh ngân hàng (Agarwal, 2016). kiosk càng được ứng dụng nhiều để thanh toán, các kiosk chuyền tiền có thê chuyển hàng tỷ USD khắp thế giới (Kiosk marketplace, 2014). Bảy là, thanh toán bằng séc điện tử: Theo Anderson (1998), séc điện tử được thiết kế để thực hiện đầy đủ chức năng của séc giấy bằng cách sử đụng chữ ký được mã hóa và điện tín được bảo mật trên Internet. Có nhiều cách để sử dụng séc điện tử như người mua hàng có thê gửi séc dưới dạng hình ảnh hoặc gửi séc giấy và người bán hàng phải quét tờ séc giấy đó để đăng tải lên máy tính và gửi cho ngân hàng; hoặc người mua có thể điền vào một biểu mẫu séc trực tuyến và séc này được gửi tới người bán hàng để người bán hàng tự gửi séc đến ngân hàng, hoặc biểu mẫu séc này sẽ được gửi trực tiếp đến trung tâm thanh toán séc.
Công cụ này có các ưu điểm là thời gian xử lý nhanh hơn séc giấy và tiết kiệm chỉ phí hơn cho người bán so với thanh toán bằng thẻ. Như vậy, dịch vụ TTĐT với nhiều công cụ thanh toán khác nhau đã hình thành nên sự đa dạng của dịch vụ TTĐT, góp phần gia tăng lợi ích của TTĐT. Lợi ích của TTĐT Theo Suman và Divakara (2015), TTĐT có bốn ích lợi sau: Thứ nhất, thuận tiện: Lợi thế lớn nhất của TTĐT là sự tiện lợi, các cá nhân có thể thanh toán hoá đơn và mua hàng tại mọi mức giá và thanh toán 24 giờ trong ngày, 7 ngày một tuần và 365 ngày một năm. Thứ hai, thời gian nhanh chóng: Khi thực hiện thanh toán các hóa đơn qua thanh toán điện tử sẽ thực hiện một cách nhanh chóng.
Thứ ba, chỉ phí được tiết giảm: Chỉ phí thanh toán điện tử thấp cũng là một lợi ích khác đối với các bên tham gia mua bán, cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thứ tr, an toàn: Trong TTĐT, công nghệ mã hóa cho phép dữ liệu tài chính cá nhân được mã hóa trước khi được gửi bằng điện tử. Qua đó, làm giảm nguy cơ sai lỗi và đảm bảo an toàn cho các bên tham gia mua bán, cung cấp hàng hóa, địch vụ. Như vậy, các lợi ích trong TTĐT là tiên lợi, nhanh chóng, tiết giảm chỉ phí và an toàn trong TTĐT cho các giao dịch thương mại điện tử qua Internet.
Rúi ro của TTĐT Bên cạnh nhiều lợi ích trong TTĐT, Suman và Divakara (2015) cũng nêu một số nhược điểm lớn nhất của TTĐT là: Một là, xác thực: Không có cách nào để thắm định hoặc xác minh thông tin cá nhân đăng nhập trực tuyến. Trong trường hợp không có yêu cầu xác định hình ảnh hoặc thậm chí là chữ ký, người sử dụng trái phép có thể thực hiện các giao dịch với thông tin khác nhau. Hai là, tài khoản trực tuyến: Một trong những nhược điểm khác của thanh toán điện tử là hầu hết các trang web yêu cầu các bên giao dịch phải mở tài khoản 10 trực tuyến. Các bên giao dịch phải đăng ký để thực hiện các khoản thanh toán, thông báo tên người dùng và mật khâu, có nghĩa là cần bảo mật mật khâu, để duy trì tài khoản thanh toán điện tử tại mỗi tổ chức.
Nếu tổ chức, cá nhân có nhiều hơn một hoặc hai tài khoản, thanh toán điện tử có thê trở nên rat công kênh. Qua lợi ích và rủi ro trong TTĐT, cho thấy khi sử dụng TTĐT để thanh toán hóa đơn cần phải cân nhắc kỹ lưỡng hệ thống TTĐT để đảm bảo thanh toán được thực hiện kịp thời và cần có các biện pháp bảo vệ để ngăn chặn sử dụng thông tin sai lệch trong thanh toán, dam bảo an toàn trong TTĐT. Cơ sở lý luận về đa dạng hóa dịch vụ TTĐT 1.