Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế phát triển mạnh mẽ, các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp. Sự vận động của hơn 3 chế độ tài sản trong lịch sử lập pháp từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, năm 1986 đến năm 2000 phản ánh bước chuyển biến lớn từ chế độ cộng đồng toàn sản sang chế độ kết hợp tài sản chung và tài sản riêng. Việc phân định tài sản trong thời kỳ hôn nhân trở thành nhu cầu cấp thiết khi tỷ lệ các cặp vợ chồng tham gia đầu tư kinh doanh độc lập tăng khoảng 45% trong thập niên gần đây.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là tính pháp lý và thực tiễn thi hành các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng khi quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm làm sáng tỏ bản chất lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng Điều 29 và Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật thực định Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013, kết hợp khảo sát thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân và hoạt động chứng nhận tại các văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế cùng một số địa phương trọng điểm. Luận văn còn mở rộng so sánh với Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 và Bộ luật Dân sự Thương mại Thái Lan năm 1925. Ý nghĩa của công trình là bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ theo Điều 52 và Điều 63 Hiến pháp năm 1992, đồng thời xác lập cơ chế giảm thiểu 100% nguy cơ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người thứ ba và con chưa thành niên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết cốt lõi trong khoa học pháp lý dân sự: Lý thuyết sở hữu chung hợp nhất theo phần và Lý thuyết quyền tự do ý chí khế ước kết hợp bảo vệ trật tự công cộng. Mô hình nghiên cứu vận dụng 4 nguyên tắc pháp lý căn bản: nguyên tắc tự do thỏa thuận nhưng không trái đạo đức xã hội theo Điều 10 Bộ luật Dân sự năm 2005; nguyên tắc bình đẳng tuyệt đối giữa vợ và chồng trong sở hữu tài sản theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình; và nguyên tắc bảo đảm quyền lợi tối cao của trẻ em theo Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa bao gồm: tài sản chung hợp nhất, tài sản riêng của vợ chồng, lý do chính đáng để chia tài sản và thỏa thuận phân chia tài sản trong hôn nhân. Khái niệm khoa học do tác giả xác lập chỉ rõ: "Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ tài sản chung thành tài sản riêng theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án khi có lý do chính đáng, không làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng".

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 3 nguồn chính: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và quốc tế; tuyển tập hơn 45 bản án dân sự của Tòa án nhân dân các cấp; và 120 hồ sơ thỏa thuận phân chia tài sản được lập tại các tổ chức hành nghề công chứng trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2012.

Nghiên cứu áp dụng cỡ mẫu gồm 120 hợp đồng công chứng và 45 vụ án điển hình. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn lọc các vụ việc có tranh chấp phức tạp về kinh doanh riêng và bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho bên thứ ba. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp tổng hợp định tính và so sánh luật học là nhằm chỉ rõ sự tương thích giữa quy định trong văn bản và diễn biến thực tế áp dụng. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 3 năm, hoàn thành và nghiệm thu chính thức vào năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tiễn mang lại 4 phát hiện quan trọng có số liệu minh chứng:

Thứ nhất, có tới 75% các trường hợp yêu cầu chia tài sản chung xuất phát từ mục đích tạo lập vốn đầu tư kinh doanh riêng hoặc hạn chế rủi ro phá sản doanh nghiệp, tăng 40% so với thời kỳ áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.

Thứ hai, khoảng 60% các văn bản thỏa thuận tại văn phòng công chứng gặp khó khăn trong khâu thẩm định vì khái niệm "lý do chính đáng khác" quy định tại khoản 1 Điều 29 chưa được văn bản dưới luật nào giải thích chi tiết, dẫn đến tình trạng áp dụng thiếu thống nhất giữa các địa phương.

Thứ ba, tỷ lệ bảo vệ quyền lợi của người thứ ba là chủ nợ chỉ đạt khoảng 35% trong các vụ tranh chấp phát sinh, do pháp luật chưa trao quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản cho chủ nợ theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Thứ tư, 100% các trường hợp phân chia tài sản hợp pháp không làm chấm dứt quan hệ nhân thân vợ chồng, nhưng đã tạo ra sự biến đổi căn bản về nguồn gốc sở hữu đối với 2 khối tài sản: tài sản đã chia trở thành tài sản riêng, hoa lợi lợi tức từ phần còn lại vẫn thuộc sở hữu chung theo Điều 30.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các bất cập trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa Điều 224 Bộ luật Dân sự năm 2005 và pháp luật hôn nhân gia đình. Trong khi luật dân sự cho phép chủ nợ yêu cầu chia tài sản chung của con nợ, thì luật hôn nhân gia đình chỉ giới hạn quyền này cho vợ hoặc chồng.

Khi đối chiếu với quốc tế, Điều 1445 Bộ luật Dân sự Pháp với hơn 200 năm kinh nghiệm quy định bản án tách tài sản phải ghi chú công khai bên lề giấy chứng nhận kết hôn. Đồng thời, Điều 1484 và Điều 1491 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định cụ thể 4 trường hợp chia tài sản bắt buộc bao gồm cả khi một bên bị tuyên bố phá sản hoặc mất năng lực hành vi.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua bảng so sánh 3 hệ thống pháp luật Việt Nam, Pháp, Thái Lan về điều kiện phân chia tài sản, kết hợp cùng biểu đồ cơ cấu lý do chia tài sản gồm 75% kinh doanh riêng, 15% thực hiện nghĩa vụ cá nhân và 10% lý do gia đình khác.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể 5 tiêu chí xác định "lý do chính đáng khác" trước quý 4 năm 2014, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ giải quyết tranh chấp chính xác tại Tòa án lên trên 95%.

Thứ hai, Quốc hội cần bổ sung quyền yêu cầu phân chia tài sản chung của người thứ ba có quyền lợi liên quan vào Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi, học tập kinh nghiệm từ Điều 1447 Bộ luật Dân sự Pháp nhằm giảm 50% các hành vi tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Thứ ba, Bộ Tư pháp cần xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu liên thông công chứng toàn quốc trước năm 2015, yêu cầu cập nhật 100% văn bản thỏa thuận phân chia tài sản trong vòng 24 giờ sau khi ký công chứng để ngăn ngừa giao dịch gian lận.

Thứ tư, bổ sung điều khoản bắt buộc vợ chồng phải trích lập tối thiểu 30% thu nhập riêng phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình và nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên sau khi phân chia toàn bộ khối tài sản chung.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm Thẩm phán và Thư ký Tòa án nhân dân các cấp có thể sử dụng luận văn như tài liệu tham chiếu trực tiếp khi giải quyết các tranh chấp phân chia tài sản khi hôn nhân đang tồn tại, giúp rút ngắn khoảng 30% thời gian nghiên cứu hồ sơ.

Nhóm Công chứng viên tại hơn 800 tổ chức hành nghề công chứng trên toàn quốc tìm thấy quy trình thẩm định 3 bước chặt chẽ để kiểm tra tính hợp pháp, tính tự nguyện và phát hiện dấu hiệu tẩu tán tài sản theo Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP.

Nhóm Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp có thể vận dụng để tư vấn các cấu trúc phân chia tài sản an toàn cho khách hàng là doanh nhân, bảo vệ 100% vốn đầu tư kinh doanh cá nhân mà không làm đổ vỡ quan hệ gia đình.

Nhóm Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học khai thác hệ thống dữ liệu so sánh luật học chuyên sâu với hơn 50 danh mục tài liệu tham khảo trong nước và quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có làm chấm dứt quan hệ vợ chồng hay không? Hoàn toàn không. Khác với ly hôn, việc phân chia tài sản theo Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 chỉ làm thay đổi quan hệ tài sản mà vẫn duy trì 100% các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng theo quy định tại Chương 3 và Chương 4 của luật.

Vợ chồng có thể tự thỏa thuận chia tài sản mà không cần qua Tòa án được không? Có. Pháp luật Việt Nam cho phép vợ chồng lập văn bản thỏa thuận tự nguyện. Căn cứ Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, văn bản thỏa thuận này có giá trị pháp lý đầy đủ khi được lập thành văn bản và công chứng hoặc chứng thực theo quy định.

Trường hợp nào việc phân chia tài sản chung bị coi là vô hiệu? Theo Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, thỏa thuận bị Tòa án tuyên vô hiệu trong 5 trường hợp cụ thể nhằm trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thuế, thanh toán khi phá sản doanh nghiệp hoặc trả nợ cho người thứ ba.

Chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản của vợ chồng bên vay nợ hay không? Theo luật hiện hành thì chưa. Quyền yêu cầu hiện chỉ thuộc về vợ hoặc chồng. Luận văn đã kiến nghị sửa đổi quy định này theo hướng trao quyền yêu cầu cho chủ nợ khi bên có nghĩa vụ không còn tài sản riêng để thanh toán.

Sau khi chia tài sản chung, vợ chồng có thể khôi phục lại chế độ tài sản chung được không? Được. Vợ chồng có quyền lập văn bản thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung theo Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Thỏa thuận này có hiệu lực kể từ ngày được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ nghiên cứu thông qua 5 kết luận cơ bản:

  • Khái quát hóa toàn diện cơ sở lý luận và xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
  • Phân tích sâu sắc 4 nguyên tắc then chốt và chỉ rõ các đặc trưng pháp lý riêng biệt so với chia tài sản khi ly hôn hoặc thừa kế.
  • Khảo sát thực chứng 120 hồ sơ công chứng và 45 vụ án thực tế, vạch rõ các lỗ hổng lập pháp tại Điều 29 và Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
  • Tiếp thu có chọn lọc các giá trị lập pháp tiến bộ từ 2 nền luật học Pháp và Thái Lan về bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp lập pháp và thực thi cụ thể, có tính khả thi cao nhằm phục vụ trực tiếp cho tiến trình sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình trong giai đoạn tiếp theo.

Các nhà nghiên cứu, luật sư và bạn đọc quan tâm có thể tiếp tục mở rộng đề tài theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký tài sản hôn nhân bằng cách tra cứu toàn văn công trình tại Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.