Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu 3 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH SX và TM Phúc Hƣng. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH SX và TM Phúc Hƣng. Phần III: Kết luận và kiến nghị 4 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 1. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về chi phí sản xuất Một doanh nghiệp sản xuất, ngoài hoạt động có liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ còn có các hoạt động khác không có tính chất sản xuất nhƣ hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý, các hoạt động quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp… Chỉ những chi phí để tiến hành sản xuất ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ mới đƣợc coi là chi phí sản xuất. Một số khái niệm về chi phí sản xuất nhƣ sau: “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)” (Nguyễn Văn Công, 2007).
“Chi phí sản xuất là những tổn thất về nguồn lực kinh tế, về tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh” (Huỳnh Lợi, 2009). “Chi phí sản xuất là những khoản phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt đƣợc một sản phẩm, một dịch vụ, của cải nhất định” (Phan Đức Dũng, 2006). “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí đã đầu tƣ cho việc sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)” (Võ Văn Nhị, 2007) Các khái niệm trên có thể khác nhau về cách biểu đạt, hình thức thể hiện…nhƣng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: Chi phí sản xuất là một nguồn 5 lực hy sinh hay mất đi và phải phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất, kinh doanh. Hay bản chất chi phí là sự tiêu hao nguồn lực nhằm tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm và đƣợc bù đắp từ thu nhập sản xuất kinh doanh.
Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất có thể đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu và mục đích của công tác quản lí. Việc hạch toán chi phí sản xuất theo từng tiêu thức sẽ nâng cao tính chi tiết của thông tin, là cơ sở cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng và tăng cƣờng hạch toán kinh tế. Thông thƣờng, chi phí sản xuất trong các công ty sản xuất đƣợc phân loại theo các tiêu thức sau: Theo Luật Kế toán: a) Phân loại chi phí theo nội dung và tính chất kinh tế Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của công ty đƣợc chia thành các yếu tố sau: - Chi phí nguyên vật liệu bao gồm toàn bộ giá trị của các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng cho sản xuất trong kỳ. - Chi phí nhân công là toàn bộ tiền công, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, KPCĐ và các khoản khác phải trả cho ngƣời lao động.
- Chi phí khấu hao TSCĐ là toàn bộ phải trích khấu hao, trích trƣớc chi phí sửa chữa lớn trong tháng đối với tất cả các loại TSCĐ có trong công ty. - Chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ cho việc sản xuất nhƣ chi phí tiền nƣớc, tiền điện. - Chi phí khác bằng tiền khác là chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất ngoài bốn yếu tố chi phí nói trên nhƣ chi phí bằng tiền mặt, chi phí tiếp khách. 6 Phân loại theo tiêu thức này giúp ta hiểu đƣợc kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp công ty dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.
b) Phân loại chi phí theo mục đích, công dụng của chi phí Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công dụng nhất định đối với hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nhƣ thế nào. Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kì đƣợc chia làm các khoản mục chi phí sau: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về nguyên liệu, vật liệu đƣợc sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm trong kỳ sản xuất kinh doanh. Chi phí nguyên liệu, vật liệu phải tính theo giá thực tế khi xuất dùng.
Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhƣ tiền lƣơng, các khoản phụ cấp và các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN trích theo lƣơng của công nhân trực tiếp. Chi phí sản xuất chung: Bao gồm tất cả các loại chi phí nằm ngoài khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những khoản chi phí gián tiếp phát sinh ở khâu sản xuất sản phẩm nhƣ chi phí công gián tiếp (chi phí nhân công quản lý phân xƣởng, …), chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí khấu hao TSCĐ, … Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí có tác dụng xác định số chi phí đã chi cho từng lĩnh vực hoạt động của công ty, làm cơ sở để tính giá thành và kết quả hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất chế tạo ra sản phẩm sẽ là những chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm khi hoàn thành.
c) Phân loại chi phí theo phƣơng pháp quy nạp Theo phân loại này, chi phí đƣợc chia nhƣ sau: 7 Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tƣợng chịu chi phí, có thể quy nạp vào từng đối tƣợng chịu chi phí nhƣ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí gián tiếp: Là những chi phí liên quan đến nhiều đối tƣợng chi phí nhƣ chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công phụ… Đối với chi phí gián tiếp, nguyên nhân gây ra chi phí và đối tƣợng chịu chi phí rất khó nhận dạng, vì vậy thƣờng phải tập hợp chung và sau đó lựa chọn tiêu thức phân bổ cho từng đối tƣợng chịu chi phí. d) Phân loại chi phí theo quan hệ với mức độ hoạt động (theo mô hình ứng xử của chi phí) Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh lại đƣợc phân theo quan hệ với khối lƣợng công việc hoàn thành. Theo cách này, chi phí đƣợc chia thành biến phí và định phí.
Biến phí là những chi phí nếu xét về tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động. Ngƣợc lại, nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động, biến phí là một hằng số. Định phí là những chi phí mà xét về tổng số ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức độ hoạt động nhƣng nếu xét đến nếu xét đến mức độ hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động. Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí bao gồm cả biến phí và định phí.
Ở mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp là định phí; ở mức độ hoạt động khác nó có t hể bao gồm định phí và biến phí. Phân loại tiêu thức này có vai trò quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp, giúp nhà quản trị định giá bán sản phẩm, chấp nhận hay từ chối đơn đặt hàng. Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp. Khái niệm về giá thành sản phẩm “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lƣợng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành nhất định” (Nguyễn Văn Công, 2008) 1.
Nội dung của giá thành sản phẩm - Giá thành sản xuất của sản phẩm và dịch vụ gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp; chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. - Giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ bao gồm: giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ; chi phí bán hàng; chi phí quản lý doanh nghiệp 1. Chức năng của giá thành - Chức năng bù đắp chi phí: Giá thành sản phẩm biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Những hao phí vật chất này cần đƣợc bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để đảm bảo bảo yêu cầu tái sản xuất.
- Chức năng lập giá: Sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất là sản phẩm hàng hóa đƣợc thực hiện trên giá thị trƣờng thông qua giá cả cho nên để thực hiện đƣợc yêu cầu bì đắp hao phí vật chất thì khi xây dựng giá phải căn cứ vào giá thành sản phẩm. - Chức năng đòn bẩy kinh tế: Doanh thu của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá thành sản phẩm. Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng cƣờng doanh thu, tạo nên tích lũy để tái sản xuất mở rộng. Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng nhƣ xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành đƣợc xem xét tới nhiều phạm vi tính toán khác nhau.
Về lý luận cũng nhƣ trên thực tế, ngoài các khái niệm giá thành xã 9 hội và giá thành cá biệt còn có các khái niệm giá thành phân xƣởng, giá thành toàn bộ, … 1.