Chương 1: Cơ sở lý luận về Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Chương 2: Tổng quan về Công ty Cổ Phần Thiết bị Nhà bếp Vina Chương 3: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành Công ty Cổ phần Thiết bị Nhà bếp Vina Chương 4: Nhận xét, kiến nghị và giải pháp 2 GVHD: ThS. Vũ Quốc Thông SVTH: Nguyễn Ngọc Anh Thư CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1. TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1. Chi phí sản xuất: a) Khái niệm: “Chi phí sản xuất được biểu hiện bằng tiền bao gồm toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra liên quan đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất định (tháng, năm, quý) hoặc năm tài chính.
Huỳnh Lợi và các cộng sự, Kế toán chi phí, Đại học Kinh tế TP.HCM, năm 2013) b) Phân loại chi phí: Chi phí sản xuất có thể phân thành nhiều loại và phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm phục vụ cho công tác kế toán cũng như quản trị chi phí ở các doanh nghiệp tốt hơn. Như vậy, mỗi doanh nghiệp có thể tùy chọn cách phân loại chi phí như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp. Sau đây là một số cách phân loại chi phí (Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Huỳnh Lợi và các cộng sự - trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM, năm 2013): Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế (Theo yếu tố chi phí) Cách phân loại này cho biết được tổng chi phí phát sinh ban đầu để làm căn cứ lập kế hoạch và kiểm soát chi phí theo yếu tố. Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành các yếu tố sau: - Chi phí nguyên vật liệu: là toàn bộ giá trị nguyên vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí nhân công: là tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản trích theo lương (Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Kinh phí công đoàn) và các khoản phải trả khác cho người lao động trong kỳ. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: là phần giá trị hao mòn của tài sản cố định chuyển dịch vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: là các khoản tiền điện, tiền nước, điện thoại, thuê mặt bằng,. - Chi phí khác bằng tiền: là những chi phí sản xuất kinh doanh khác chưa được phản ánh trong các chi phí trên nhưng đã chi bằng tiền như chi phí tiếp khách, hội nghị,… 3 GVHD: ThS.
Vũ Quốc Thông SVTH: Nguyễn Ngọc Anh Thư Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động: Cách phân loại này căn cứ vào chức năng hoạt động mà chi phí phát sinh để phân loại. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động giúp cho kế toán, nhà quản lý nhận thức được vai trò, vị trí của chi phí đối với từng hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau trong doanh nghiệp. Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành 2 loại là chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. - Chi phí sản xuất: Là toàn bộ chi phí liên quan đến chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong một thời kỳ nhất định và tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng hoạt động, chi phí sản xuất được sắp xếp thành những khoản mục có nội dung kinh tế khác nhau.
Nhưng đối với doanh nghiệp sản xuất thì chi phí sản xuất được chia thành 3 khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là biểu hiện bằng tiền những nguyên vật liệu chủ yếu tạo thành thực thể vật chất của sản phẩm như: sắt, thép, gỗ, vải,… và nguyên vật liệu có tác dụng phụ thuộc, nó kết hợp với nguyên vật liệu chính để sản xuất ra sản phẩm hoặc tăng chất lượng của sản phẩm, hoặc tạo ra màu sắc, mùi vị cho sản phẩm, hoặc rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm… Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được hạch toán trực tiếp vào đối tượng chịu chi phí. Chi phí nhân công trực tiếp: là tiền lương chính, lương phụ, các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp và các khoản phải trả khác cho công nhân trực tiếp sản xuất. Chi phí nhân công trực tiếp được hạch toán trực tiếp vào các đối tượng chịu chi phí. Chi phí sản xuất chung: là những chi phí để sản xuất ra sản xuất nhưng không kể chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, chi phí khấu hao tài sản cố định sử dụng trong sản xuất và quản lý sản xuất, chi phí sửa chữa bảo trì, chi phí quản lý phân xưởng,… Trong hoạt động sản xuất, sự kết hợp các chi phí trên tạo những loại chi phí khác nhau: Kết hợp giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp với chi phí nhân công trực tiếp được gọi là chi phí ban đầu, thể hiện chi phí chủ yếu cần thiết khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Kết hợp giữa chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được gọi là chi phí chuyển đổi, chi phí chế biến, thể hiện chi phí cần thiết để chuyển nguyên vật liệu thành sản phẩm. Vũ Quốc Thông SVTH: Nguyễn Ngọc Anh Thư - Chi phí ngoài sản xuất: Là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm và quản lý chung toàn doanh nghiệp. Chi phí ngoài sản xuất bao gồm: Chi phí bán hàng: Là toàn bộ những chi phí phát sinh cần thiết để tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa; bao gồm các khoản chi phí như vận chuyển, bốc vác, bao bì, lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng; khấu hao tài sản cố định và những chi phí khác liên quan đến dự trữ, bảo quản sản phẩm, hàng hóa.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ những chi phí chi ra cho việc tổ chức và quản lý trong toàn doanh nghiệp. Đó là chi phí hành chính, kế toán, quản lý chung… Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả kinh doanh: - Chi phí sản phẩm: là những chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất sản phẩm hoặc mua hàng hóa. Chi phí sản phẩm được xem là gắn liền với từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa khi chúng được sản xuất ra hoặc được mua vào, chúng gắn liền với sản phẩm, hàng tồn kho chờ bán và khi sản phẩm, hàng hóa được tiêu thụ thì mới trở thành dòng ra của giá trị để xác định kết quả kinh doanh. - Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và được tính hết vào phí tổn trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh; bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài và trong kỳ không có hoặc có ít doanh thu thì chúng được tính vào phí tổn của kỳ sau để xác định kết quả kinh doanh. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng tính giá thành: - Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí và được hạch toán vào đối tượng có liên quan. Thông thường chi phí trực tiếp là những chi phí đơn nhất cấu tạo bởi một yếu tố như chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương,… Chi phí trực tiếp thường được đo lường, ghi nhận chính xác cho từng đối tượng nên không tạo nên sự sai lệch về chi phí này khi tính giá thành sản phẩm. - Chi phí gián tiếp: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, do đó nó được phân bổ vào các đối tượng có liên quan theo tiêu thức nhất định.
Chi phí gián tiếp thường là những chi phí tổng hợp của nhiều chi phí đơn nhất. Chi phí gián tiếp rất khó đo lường, ghi nhận chính xác cho từng đối tượng. Vũ Quốc Thông SVTH: Nguyễn Ngọc Anh Thư 1.Giá thành sản phẩm: a) Khái niệm: Theo từ điển thuật ngữ tài chính – tín dụng của Bộ Tài Chính: “Giá thành là toàn bộ hao phí lao động vật hóa (nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực, khấu hao tài sản cố định và công cụ nhỏ) và lao động sống trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, quản lý kinh doanh, được tính bằng tiền cho một sản phẩm, một đơn vị công việc, hoặc một dịch vụ sau một thời kỳ, thường là đến ngày cuối tháng”. Giá thành là một trong chỉ tiêu quan trọng đối với tổ chức sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất.
Giá thành thực chất cũng là chi phí. Giá thành sản phẩm có các chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí, lập giá và là đòn bẩy kinh tế. Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để hoàn thành một khối lượng sản phẩm, công việc sẽ được bù đắp bằng chính số tiền tiêu thụ sản phẩm. Việc bù đắp chi phí đầu vào mới chỉ đảm bảo được quá trình tái sản xuất giản đơn.
Mục đích sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải và bù đắp mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất và có lãi. Do vậy, thông qua tiêu thụ sản phẩm mà thực hiện giá trị sử dụng của hàng hóa. Đồng thời, thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí .(Nguồn http://voer.vn/m/ban-chat-va-vai-tro-cua- chi-phi-san-xuat-va-tinh-gia-thanh-san-pham-trong-doanh-nghiep) b) Phân loại giá thành: Các cách phân loại giá thành (Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Huỳnh Lợi và các cộng sự - trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM, năm 2013): Phân loại giá thành theo thời điểm xác định giá thành: - Giá thành kế hoạch là giá thành được tính trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh cho tổng sản phẩm kế hoạc dựa trên chi phí định mức của kỳ kế hoạch. - Giá thành định mức là giá thành được tính trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh cho 1 đơn vị sản phẩm dựa trên chi phí định mức của kỳ kế hoạch.
- Giá thành thực tế là giá thành được xác định sau khi đã hoàn thành việc chế tạo sản phẩm trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh và kết quả sản xuất kinh doanh thực tế đạt được.