CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM CÔNG TY XÂY LẮP 1.1 Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1.1 Khái niệm về chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp “ Chi phí là tổng các giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc vốn chủ sở hữu”. ( Chuẩn mực số 01 của Bộ tài chính) “ Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động SXKD hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực kinh tế, về tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động SXKD”. Huỳnh Lợi 2009) “Chi phí sản xuất xây lắp là toàn bộ khoản hao phí vật chất mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện công tác xây lắp nhằm tạo ra các sản phẩm khác nhau theo mục đích kinh doanh cũng như theo hợp đồng giao nhận thầu đã ký kết”.Võ Văn Nhị_ Kế toán tài chính, 2001) 1.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong doanh nghiệp, ảnh hưởng tới việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp. Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu: - Chi phí nhân công: Bao gồm các khoản tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp theo lương phải trả cho người lao động và các khoản trích theo lương như KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN,.của người lao động.
SVTH: Lê Thị Vân 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Quốc Tú - Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí phụ tùng thay thế, chi phí nguyên vật liệu khác,. sử dụng trong sản suất. - Chi phí công cụ, dụng cụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua công cụ xuất dùng và dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm khấu hao của tất cả các TSCĐ, tài sản dài hạn, máy móc dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chi phí và dịch vụ thuê ngoài: Bao gồm giá dịch vụ mua ngoài cung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng trong thi công xây lắp như vật liệu xây lắp, nhiên liệu.Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí nên dễ nhận diện, định lượng một cách chính xác. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản lương nhân công trực tiếp và các khoản trích theo lương như BHYT, BHTN, KPCĐ,.Đối với quy trình công nghệ thủ công thì chi phí nhân công trực tiếp là chi phí lương, các khoản trích theo lương,.của công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm.
Đối với những quy trình sản xuất tự động hóa thì chi phí nhân công là chi phí lương, các khoản trích theo lương,.của công nhân trực tiếp vận hành, điều khiển quy trình đó. - Chi phí sử dụng máy thi công: Bao gồm các chi phí liên quan đến việc sử dụng máy thi công như tiền lương nhân công trực tiếp điều khiển máy thi công, chi phí khấu hao máy thi công,. - Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí trực tiếp khác ngoài ba chi phí trên như chi phí tổ chức, quản lý gắn liền với chi phí của tổ, đội, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí điện, nước, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác,. SVTH: Lê Thị Vân 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Quốc Tú - Chi phí bán hàng: Là những chi phí đảm bảo cho việc bán hàng của doanh nghiệp bao gồm chi phí lương trong việc trực tiếp hay gián tiếp trong hoạt động bán hàng, chi phí nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho việc bán hàng, chi phí công cụ dụng cụ, bao bì,. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động hành chính, quản lý như lương, các khoản trích theo lương, chi phí nhiên liệu, nguyên liệu,. phục vụ cho công tác quản lý tại doanh nghiệp. Phân loại theo phương pháp quy nạp - Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng chịu chi phí, có thể tính trực tiếp và cho từng đối tượng.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí nên được phân bổ cho từng đối tượng theo các tiêu thức nhất định. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động - Biến phí: Là những chi phí có mối tương quan tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động, mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành. - Định phí: Là những chi phí không thay đổi theo mức độ hoạt động. - Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí bao gồm hỗn hợp định phí và biến phí.
Ngoài ra còn có một số nhận diện khác về chi phí như: - Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được. - Chi phí chênh lệch - Chi phí chìm - Chi phí cơ hội SVTH: Lê Thị Vân 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.2 Giá thành sản phẩm và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.1 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.1 Khái niệm Ts. Huỳnh Lợi (2009) “Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành nhất định.” Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí trực tiếp khác cho công trình, hạng mục công trình hay khối lượng sản xuất hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và được chấp nhận thanh toán. Vì vậy, giá thành sản phẩm xây lắp là một trong những chỉ tiêu chất lượng quan trọng, vì nó phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, là cơ sở để xác định kết quả tài chính.2 Đối tượng và kỳ tính giá thành Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm của kế toán.
Kế toán phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, tính chất sản xuất và yêu cầu quản lý để xác định đối tượng tính giá thành một cách hợp lý. Trong kinh doanh xây lắp do tính chất sản xuất đơn chiếc mỗi sản phẩm có lập dự toán riêng nên đối tượng tính giá thành thông thường là: hạng mục công trình, toàn bộ công trình, hay khối lượng công tác xây lắp hoàn thành. Xác định đối tượng tính giá thành là cơ sở để kế toán lập phiếu tính giá thành sản phẩm, tổ chức tính giá thành theo đối tượng phục vụ cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh để có kế hoạch, biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm nhưng đảm bảo được chất lượng sản phẩm. Trong kinh doanh xây lắp thời gian sản xuất sản phẩm kéo dài.
Do vậy xét về mặt lượng thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thường không bằng nhau. Chúng chỉ thực sự bằng nhau khi không có giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ. SVTH: Lê Thị Vân 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Quốc Tú Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm do doanh nghiệp xây lắp sản xuất ra, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
“ Đối tượng tính giá thành thường là công trình, hạng mục công trình, khối lượng công việc hoàn thành bàn giao hoặc đã được nghiệm thu đúng tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật chờ bán”. Huỳnh Lợi 2009) Kỳ tính giá thành là thời gian tính giá thành thực tế cho từng đối tượng tính giá thành nhất định. Kỳ tính giá thành là mốc thời gian mà bộ phận kế toán giá thành tổng hợp số liệu thực tế cho các đối tượng. Việc xác định kỳ tính giá thành phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chu kỳ sản xuất và hình thức bàn giao công trình.
- Với công trình nhỏ, thời gian thi công ngắn (dưới 12 tháng), kỳ tính giá thành là từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình. - Với những công trình lớn, thời gian thi công kéo dài (lớn hơn 12 tháng), khi nào có một bộ phận, hạng mục hoàn thành, có giá trị sử dụng và được nghiệm thu, kế toán tiến hành tính giá bộ phận, hạng mục đó. - Với những công trình có thời gian kéo dài nhiều năm, những bộ phận không thể tách ra để đưa vào sử dụng được, khi từng phần điểm lắp đặt đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý theo thiết kế tính toán sẽ tính giá thành cho khối lượng công tác được hoàn thành bàn giao. Kỳ tính giá thành này là từ khi bắt đầu thi công cho đến khi đạt điểm dừng kỹ thuật.3 Phương pháp tính giá thành Theo TS.
Huỳnh Lợi phương pháp tính giá thành thường sử dụng phương pháp sau : Phương pháp giản đơn: Phương pháp này thường áp dụng để tính giá thành khi đối tượng tập hợp chi phí là đối tượng tính giá thành. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay vì sản xuất thi công mang tính chất đơn chiếc, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất SVTH: Lê Thị Vân 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Quốc Tú phù hợp với đối tượng tính giá thành. Hơn nữa, áp dụng phương pháp này cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành trong mỗi kỳ báo cáo và cách tính đơn giản, dễ dàng thực hiện.
Ngoài ra còn có các phương pháp khác: Phương pháp tỷ lệ: Phương pháp này áp dụng khi cùng một công trình tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau. Đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ công trình thi công xây lắp, đối tượng tính giá thành là từng hạng mục, chi tiết. Phương pháp hệ số: Phương pháp này chỉ khác với phương pháp tỷ lệ là các hạng mục hoàn thành được xác lập các hệ số quy đổi.