Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế - Chương 2: Thiết kế nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý 5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Liên quan đến chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (thu nhập tính thuế) đã có những nghiên cứu về phương pháp đo lường cũng như đánh giá mối quan hệ giữa hai đại lượng này qua đó cung cấp bằng chứng về khả năng quản trị thuế nhằm giảm tiền thuế phải nộp của các công ty. Tuy nhiên, việc so sánh giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế khó có thể thực hiện trực tiếp được do số liệu về lợi nhuận kế toán trước thuế có thể dễ dàng tìm thấy trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhưng thu nhập chịu thuế lại không được công khai. Chênh lệch giữa hai đại lượng này sẽ được đánh giá gián tiếp qua chỉ tiêu tỷ suất thuế thực tế ETR và tỷ suất thuế danh nghĩa STR của doanh nghiệp.
Chủ đề này được một số tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu trong thời gian qua. Green and George A. Plesko (2016) nghiên cứu mối quan hệ giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế trong thời kỳ từ 2004 đến 2014 tại Mỹ, dựa trên mô hình gốc của Plesko năm 2002, Danielle H. Green and George A.
Plesko thông qua biến phụ thuộc (BTD) cho rằng các nhân tố: tăng trưởng doanh thu (Sales), lợi thế thương mại (GW), chuyển lỗ (NOL), tài sản 4 cố định – nhà cửa kiến trúc (PPE), thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước ngoài (FI) đều có tác động đến chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế. Markus Sebastian Gebhart (2017) đã có nghiên cứu về các phương pháp đo lường về việc tránh thuế, tác giả đề cập đến việc sử dụng hai chỉ số là GAAP ETR và Current ETR trong việc đánh giá chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế. Thông qua ETR sẽ xem xét được mức độ chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế. Từ đó đánh giá được chiến lược hoãn thuế của doanh nghiệp.
Trương Thùy Vân (2017) đã mở rộng nghiên cứu so với Nguyễn Thùy Linh, tác giả tiến hành nghiên cứu chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế trường hợp công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam thông qua đánh giá chênh lệch giữa tỷ suất thuế thực tế ETR và tỷ suất thuế trên danh nghĩa STR. Kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp, thương mại (bán sỉ), thương mại (bán lẻ), Tài chính và bảo hiểm là các ngành có lợi nhuận kế toán cao hơn thu nhập chịu thuế và các doanh nghiệp lớn có mức độ chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế lớn hơn các doanh nghiệp nhỏ. Kết quả này cung cấp bằng chứng cho quan điểm có sự tách biệt giữa hai hệ thống kế toán và thuế ở Việt Nam. Tiếp tục xem xét mối liên hệ giữa kế toán và thuế với 185 trường hợp là công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Trương Thùy Vân (2019) cho rằng chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế bị tác động bởi các nhân tố như chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (Taxfee), quy mô (Size), tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), đòn bẩy tài chính (Leverage).
Tác giả nhận định có sự lấn át của thuế đến kế toán trong thực tiễn lựa chọn các nguyên tắc về kế toán và thuế. 5 Çağrı Aksoy Hazir (2019) tiến hành nghiên cứu về tỷ suất thuế thực tế tại Thổ Nhĩ Kỳ thời kỳ từ 2007 đến 2016 với việc sử dụng mô hình hồi quy với các nhân tố quy mô, cơ cấu tài sản, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời. Kết quả cho thấy các công ty tại Thổ Nhĩ Kỳ có tỷ suất thuế thực tế (ETR) thấp hơn tỷ suất thuế trên danh nghĩa (STR). Đồng thời các nhân tố trên có mối liên hệ so với tỷ suất thuế thực tế ETR, cụ thể tìm thấy bằng chứng cho thấy các công ty có đòn bẩy tài chính cao phải đối mặt với ETR thấp hơn và các công ty có vốn đầu tư cao phải đối mặt với ETR cao hơn, đồng thời cũng chỉ ra giữa quy mô công ty và ETR cũng có mối liên hệ cùng chiều với nhau.
Huỳnh Thị Nhã Thi (2020), cũng đã xem xét mối liên hệ giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đối với trường hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Sơn Trà, thành Phố Đà Nẵng. Thông qua ETR và STR, tác giả đã thực hiện phép kiểm định Anova one – Way để xem xét mối liên hệ giữa các thuộc tính của doanh nghiệp với mối liên hệ giữa đo lường lợi nhuận kế toán trước thuế và thu nhập chịu thuế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chịu ảnh hưởng của quy mô vốn điều lệ, ngành nghề, loại hình kinh tế trong việc đo lường lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế. Lê Hoàng Vinh, Vũ Thị Anh Thư, Cao Nguyễn Quý Tâm (2020) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất thuế thực tế ETR trường hợp các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, các nhân tố quy mô, đòn bẩy tài chính, mức độ đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư vào hàng tồn kho, tỷ suất sinh lời đều ảnh hưởng lên ETR.
Thông qua nghiên cứu của mình tác giả cũng đưa ra gợi ý cho các doanh nghiệp về việc lập kế hoạch thuế để tiết kiệm thuế dưới góc độ tài chính. Nguyễn Công Phương, Huỳnh Nhã Thi (2021) nghiên cứu xu hướng tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa 6 bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Thông qua hai chỉ số BTD và ETR để đánh giá, nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Sơn Trà thời kỳ năm 2016 đến 2018 có xu hướng tránh thuế, hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp này không tồn tại sự khác biệt giữa các doanh nghiệp khác nhau về ngành nghề và quy mô kinh doanh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các công ty vừa và nhỏ có xu hướng sử dụng các nguyên tắc tính thuế để đo lường cho lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, đồng thời lợi dụng nguyên tắc tính thuế để báo cáo lợi nhuận kế toán thấp hơn nhằm làm giảm thu nhập chịu thuế.
Qua các nghiên cứu trên, có thể thấy thông qua các chỉ số như BTD, ETR và STR có thể đánh giá chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế từ đó đánh giá được mối liên hệ giữa hai đại lượng này. Lý thuyết cho thấy nếu ETR gần bằng STR, một mặt giữa kế toán và thuế có mỗi liên hệ chặt chẽ; mặt khác công ty khai thác mối liên hệ này để thực hiện quản trị thuế nhằm giảm số tiền thuế phải nộp. Tuy nhiên, tại mỗi thời điểm khác nhau, quan điểm của doanh nghiệp về việc quản trị lợi nhuận cũng như quản trị các khoản chi phí trong đó là chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ khác nhau. Thêm vào đó các chính sách về kế toán và thuế của nhà nước sẽ có sự thay đổi, do đó theo thời gian chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế cũng sẽ thay đổi và chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau.
Ngoài ra, cũng cần xem xét các nhân tố thuộc tính công ty có ảnh hưởng như thế nào về mối liên hệ này? 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÊNH LỆCH GIỮA LỢI NHUẬN KẾ TOÁN VÀ THU NHẬP CHỊU THUẾ 1.1 Kế toán tài chính và kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp 1.1 Kế toán tài chính và đo lƣờng lợi nhuận kế toán. Kế toán tài chính Theo Luật kế toán Việt Nam (Luật số 88/2015/QH13) “Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán”. Với việc cung cấp thông tin cho người sử dụng bằng hệ thống báo cáo tài chính, kế toán tài chính phải tuân thủ theo các chuẩn mực và chế độ kế toán. Do đó mục tiêu cung cấp thông tin của kế toán sẽ chịu ảnh hưởng bởi các chuẩn mực và chế độ kế toán tại từng quốc gia.
Tại Việt Nam, một số nguyên tắc kế toán phải áp dụng theo VAS 01 như: Cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu. Cũng theo VAS 01, các yêu cầu cơ bản đối với thông tin kế toán phải đảm bảo các yếu tố sau: - Tính trung thực:“Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. - Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo. - Đầy đủ: Tất cả các nghiệp vụ phát sinh phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bỏ sót.
- Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ. 8 - Dễ hiểu:“Việc cung cấp thông tin đều nhằm mục đích cho người sử dụng hiểu và sử dụng được các thông tin cung cấp. Do đó cung cấp thông tin trong kế toán cũng nhằm mục đích trình bày các số liệu kế toán rõ ràng, rành mạch, dễ hiểu đối với người đọc, người sử báo cáo tài chính. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình.
Những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh.” - Có thể so sánh:“Để thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ và giữa các doanh nghiệp có thể so sánh với nhau nguyên tắc trình bày cần phải nhất quán. Trường hợp không nhất quán, có sự thay đổi chính sách kế toán thì phải trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính.