Đặt vấn đề Các loại côn trùng như ruồi, muỗi, kiến, gián…không chỉ đốt và gây khó chịu mà còn là vật trung gian lây truyền rất nhiều loại bệnh cho người và động vật. Đặc biệt, ruồi chính là tác nhân chính gây lây nhiễm các bệnh qua thực phẩm như tiêu chảy, lị, giun, dịch tả, thương hàn… Trong đó có những bệnh rất nguy hiểm như bệnh ngủ, bệnh sốt vàng da ở châu Phi. Không những thế, còn có những loài ruồi đục lá, đục trái phá hoại mùa màng và gây thiệt hại về kinh tế cho nông dân. Trong những năm gần đây, có những địa phương bị dịch ruồi hoành hành rất nặng nề, có nơi mật độ lên đến 25 – 30 con/m2 như quận Sơn Trà – TP.Đà Nẵng, Củ Chi…do đây là những khu dân cư nằm gần vùng rau chuyên canh hoặc gần nơi tập trung xử lý rác của thành phố.
Dịch ruồi đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và cuộc sống của người dân. Để chống và diệt ruồi, người ta phải dùng đủ mọi cách như giăng mùng, đậy lồng bàn, dùng quạt điện, nhang, phổ biến nhất là dùng thuốc diệt côn trùng…Tuy nhiên, các loại thuốc này thường có nguồn gốc từ hoá chất và được sử dụng dưới dạng phun xịt. Việc này có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người do thuốc rất dễ khuếch tán trong không gian và người sử dụng dễ hít phải. Vì thế, việc nghiên cứu để tạo ra một loại chế phẩm diệt ruồi hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho sức khoẻ con người và thân thiện môi trường rất cần được tiến hành.
Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và điều kiện thử nghiệm thực tế nên đối tượng côn trùng đựợc chọn nghiên cứu chính ở đây là ruồi nhà. Xuất phát từ những yêu cầu trên và được sự chấp thuận của Khoa Công Nghệ Sinh Học, dưới sự hướng dẫn của thầy Trương Vĩnh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài Sản xuất chế phẩm diệt ruồi nhà theo công nghệ sạch.2 Mục đích - Sản xuất được chế phẩm diệt ruồi hiệu quả mà không gây độc đối với con người và thân thiện với môi trường. - Dùng công nghệ sấy để tạo ra chế phẩm dạng bột thuận tiện cho việc sử dụng. - Xác định chế độ sấy thích hợp.
- Xác định hàm lượng chất phụ gia (Maltodextrin) cần thiết thêm vào để đạt hiệu quả tốt nhất. - Xác định được nồng độ độc tố có thể tiêu diệt được côn trùng. - Đánh giá được khả năng dẫn dụ côn trùng của chất thải rẻ tiền mà ở đây là rỉ đường. - Kiểm soát được độc tố của chế phẩm ra môi trường (Dạng công nghệ sạch).
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Kiến thức về côn trùng 2.1 Đặc điểm chung Ruồi là động vật chân đốt thuộc nhóm côn trùng (ruồi, chấy rận và bọ chét). Côn trùng điển hình có đầu, ngực, bụng và ba đôi chân gắn với ngực. Nhiều côn trùng có cánh và có thể bay. Vòng đời gồm các giai đoạn khác nhau gọi là biến thái.
Sau khi giao phối, con cái trưởng thành đẻ trứng, trứng nở thành ấu trùng, ví dụ dòi của ruồi, trong đó có thể có một số giai đoạn trước khi làm kén, cuối cùng từ kén ruồi trưởng thành chui ra. Một số loài đẻ con và đẻ ấu trùng thay bằng đẻ trứng. Ruồi sinh sản và hoạt động khi điều kiện phù hợp với chúng. Ở vùng ôn đới, đó thường là các tháng ấm áp trong năm, ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới là mùa mưa.
Các yếu tố địa phương như vùng đầm lầy có thể có điều kiện phù hợp cho ruồi sinh sản quanh năm, đặc biệt ở vùng nhiệt đới. Các biện pháp khống chế đòi hỏi hiểu biết ở địa phương về mùa hoạt động, nơi sinh sản và cư trú và có thể cần có hướng dẫn của chuyên ngành côn trùng. Khoa học biết được có 300.000 giống ruồi trên hành tinh. Và dù nhiều loài ruồi như vậy song họ ruồi có những đặc tính chung rất điển hình như sau: Ruồi có khả năng đề kháng các chất độc rất cao.
Những gì con người dùng để tiêu diệt ruồi như chất độc (hóa chất và chất độc có trong động thực vật), kể cả thủy ngân, DDT không có tác dụng lâu dài ở ruồi. Những chất độc thuộc loại độc nhất cũng trở thành vô hiệu đối với ruồi sau 5 đến 6 thế hệ, nghĩa là sau khoảng 3 tháng. Dưới lớp vỏ cứng bọc thân ruồi tích nhiều chất béo hơn mọi loại côn trùng khác và vì vậy thuốc trừ sâu khó có khả năng “xuyên qua” lớp chất béo khá dày ấy để gây hại cho ruồi. Ruồi sinh trưởng không nhanh bằng một số côn trùng khác.
Mỗi con ruồi cái chỉ đẻ khoảng 70 trứng. Khi đã bắt cặp với ruồi đực thì ruồi cái thải toàn bộ trứng vào nơi ẩm ướt, có thể vào chuồng phân heo, phân bò và cũng có thể vào các thùng rác và ngày hôm sau trứng đã nở thành con ngài. Chúng ăn các loại vi sinh vật có trong môi trường xung quanh. Sau từ 8 đến 10 ngày ra đời một con ruồi hoàn chỉnh.
Sau nửa giờ từ vỏ bọc chui ra con ruồi đã trưởng thành và bay đi bình thường. So với các loại côn trùng khác thì ruồi và chuồn chuồn có đôi mắt to nhất và tinh tường nhất. Một con mắt ruồi có tới 3.000 con mắt nhỏ ghép lại với nhau. Vì lẽ đó ruồi có thể nhìn tứ phía một cách dễ dàng.
Nhờ đôi mắt tinh tường cho nên ruồi không vấp bất cứ chướng ngại nào khi bay. Ruồi có bộ cánh rất cứng và dai, cơ lưng rất khỏe. Đôi cánh ruồi có thể đập 330 lần trong 1 giây. Ruồi nghe bằng chân, ngửi bằng vòi và “thưởng thức thức ăn” bằng chân.
Vòi ruồi chỉ dùng để hút những gì lỏng và mềm. Gặp vật gì chúng tiết nước bọt ra làm cho nơi đó mềm ra để hút. Ruồi có thể chịu được nhiệt độ khá lạnh và khá nóng. Nó “chung sống” với người cho nên nơi nào có người nơi đó có ruồi dù là ở Bắc hay Nam cực.
Ruồi truyền virus qua việc dùng vòi hút thức ăn, qua những cái chân bẩn đổ lên thực phẩm. Theo các chuyên gia y học thì ruồi hút thức ăn từ nấm tươi thường để lại nhiều vi sinh vật và virus gây bệnh nhất, bởi vì nấm mềm cho nên vòi ruồi hút sâu, làm cho nấm rỗng và do đó vi khuẩn và virus có đủ không gian để phát triển nhanh chóng. Ngày trước ruồi bị coi là vật trung gian truyền các loại bệnh dịch làm chết người hàng loạt, đặc biệt là dịch tả, lị và thương hàn. Rất dễ hiểu là khi chúng đổ vào phân người thì nguy cơ lây lan bệnh là rất cao.
Nói tổng thể thì ruồi là kẻ thù của con người. Ngoài các loại ruồi mang virus và các loại vi khuẩn đến thức ăn của người, ở châu Phi ruồi Tsetse (Glossima) còn truyền bệnh Trypanosomia (bệnh ngủ) và loại ruồi vàng châu Phi còn truyền bệnh vàng da gây tử vong rất cao. Ở châu Phi loại bệnh sốt vàng da do ruồi đốt gây ra đã và đang là vấn đề nhức nhối ở nhiều vùng.1 Vòng đời của ruồi.2 Phân loại Có thể phân loại ruồi thành hai nhóm lớn, nhóm ruồi đốt gây khó chịu và nhóm ruồi gây bệnh dòi. Ruồi đen (Simulium spp.
Ruồi Culicoides spp. Muỗi Anopheles spp. Ruồi trâu (Tabamus spp.) dài tới 25 mm. Mòng (Smotoxys calcitious) dài xấp xỉ 7 mm.
Ruồi Haematobia spp. dài tới 4 mm. Ruồi nhà (Musca domestica) dài xấp xỉ 7 mm. Ruồi cừu (không có cánh) (Melophagus ovinus) dài 5,0 mm.
Ruồi rừng (Hippobosca spp.) dài xấp xỉ 10 mm.2 Một số ruồi đốt và gây khó chịu quan trọng trong thú y.1 Ruồi hút máu và ruồi gây khó chịu.2 Những ruồi sinh ra bệnh dòi 1. Nhặng Calliphora spp. Ruồi dòi xoắn (Cochliomyia spp. Ruồi mũi cừu (Oestrus ovis.3 Ruồi gây bệnh dòi.
Họ ruồi nhà (Muscidae): Gồm những loài có kích thước cơ thể nhỏ hoặc trung bình, dài 3 – 8 mm. Màu tro xám, đầu to, mắt kép lớn và cách xa nhau. Trên lông cứng của râu đầu có lớp lông mịn phân bố suốt đến ngọn lông. Mặt lưng của ngực có đường vân dọc màu đen.
Sâu non (dòi) hình ống, đoạn trước nhọn, đoạn sau tù, thường ăn phân động vật và các chất hữu cơ mục nát thối rữa. Loài thường gặp là ruồi nhà (Musca domestica). Ở nước ta và một số nước nhiệt đới khác, ruồi nhà sinh sản rất nhanh, trong một mùa sinh sản từ tháng hai đến tháng bảy, ruồi nhà có thể sinh ra sáu bảy thế hệ. Mỗi ruồi cái trung bình thường đẻ 120 trứng và nếu cho rằng trong số đó chỉ có một nửa là ruồi cái có khả năng sinh sản thì trong một mùa, một ruồi cái có thể sinh tới 93 tỉ ruồi và sau một năm mặt đất sẽ có một lớp ruồi dày đến nửa mét Ruồi nhà là vật truyền các tác nhân gây bệnh nguy hiểm như bệnh lị amíp, lị vi khuẩn, bệnh thương hàn, và gây ngộ độc thức ăn.
Ngoài ra, ruồi nhà còn góp phần đáng kể vào việc phát tán các bệnh như dịch tả, lao, vv. Ruồi mang vi trùng gây bệnh ở chân, ở vòi từ các cặn bã thối rữa, từ các chất thải, đờm, phân. đến hoa quả và thức ăn, nước uống của người.2 Công nghệ sạch Dạng công nghệ sạch đã được con người áp dụng để diệt côn trùng. Con người đã biết dựa vào hành vi và độ nhạy của các cơ quan thụ cảm để tổ chức bẫy, bả diệt sâu mang lại hiệu quả cao ví dụ như tổ chức đánh bả như bả Methyl Eugenol diệt ruồi vàng hại cam (Dacus dorsalis) hoặc đánh bả bằng các chất ngoại tiết sinh dục như Pheromone để dụ và diệt ruồi đực; ruồi cái sống nhưng không đẻ trứng, do đó sẽ làm giảm rất nhiều số lượng ruồi đục trái.
Hướng nghiên cứu mới là từ những nguyên liệu rẻ tiền tạo ra chế phẩm để tiêu diệt côn trùng vừa đạt được hiệu quả cao vừa không gây hại đối với con người và thân thiện với môi trường; đồng thời giải quyết được vấn đề phế phẩm của các nhà máy sản xuất mía đường.3 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của rỉ mật Bảng 2.3 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của rỉ mật Loại rỉ mật Australia Việt nam Tham khảo Công Thủ công Công Sai nghiệp nghiệp khác Cuba Mỹ Số mẫu n=3 n= 5 n=4 ** * NL thô (MJ/kg 9,47 0.