phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về chế định ngƣời đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp 2020. Chƣơng 2: Xác lập, chấm dứt tƣ cách ngƣời đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp 2020 và kiến nghị hoàn thiện. Chƣơng 3: Thẩm quyền, trách nhiệm của ngƣời đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp 2020 và kiến nghị hoàn thiện. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 1.
Cơ sở hình thành mối quan hệ giữa ngƣời đại diện theo pháp luật với doanh nghiệp 1. Nguồn gốc quan hệ đại diện giữa ngƣời đại diện theo pháp luật với doanh nghiệp Theo quan điểm của Các Mác thì bản chất của con ngƣời là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó thông qua cách thức con ngƣời tƣơng tác, trao đổi, giao tiếp với nhau để xác lập giao dịch nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần. Hầu hết mọi ngƣời sẽ tự mình xác lập giao dịch để đáp ứng những nhu cầu của chính mình.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có đủ khả năng để tự mình xác lập tất cả giao dịch đó, thậm chí là có những ngƣời bị mất hoặc không có năng lực để xác lập, tiến hành giao dịch. Mặt khác, nhờ vào trình độ học vấn, kinh nghiệm mà một ngƣời trở nên thông thạo đối với một hoặc một số công việc nhất định. Để đảm bảo cho giao dịch đƣợc xác lập và tiến hành một cách thuận tiện, tránh đƣợc rủi ro, tiết kiệm thời gian, chi phí, con ngƣời dần có xu hƣớng nhờ ngƣời khác thay mình xác lập, thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng các nhu cầu của chính mình. Từ đó, quan hệ đại diện đƣợc hình thành3.
Trƣớc công nguyên, Luật La Mã không chấp nhận vấn đề đại diện do tính chất trọng hình thức đối với hợp đồng4. Đến thế kỉ XVIII, vấn đề đại diện đƣợc thúc đẩy ở châu Âu lục địa bởi các luật gia theo trƣờng phái luật tự nhiên5. Còn với quốc gia theo truyền thống luật Common law, pháp luật về đại diện bắt đầu từ câu châm ngôn La-tinh: “Qio facit per alium, facit per se”, tạm dịch là “hành động của một ngƣời thông qua chủ thể khác đƣợc pháp luật coi là hành động của chính ngƣời đó”, pháp luật về đại diện đƣợc hình thành6. Có thể thấy, sự thay mặt hành động của một cá nhân cho một cá nhân khác, hoặc là cho một nhóm ngƣời đã dần đƣợc thừa nhận và ngày càng đƣợc vận dụng một cách phổ biến trong xã hội.
Dƣới sự tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp, sự gia tăng sản xuất và gia tăng về số lƣợng lao động đã đặt ra vấn đề cần có ngƣời thay mặt ngƣời chủ quản lý một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhƣ vậy, ngoài vai trò là phƣơng thức giúp một 3 Lê Việt Phƣơng (2013), Người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trƣờng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr.5 4 Ngô Huy Cƣơng (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – nhìn từ góc độ luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4 (252)/2009, tr. 5 Ngô Huy Cƣơng, tlđd (4), tr.26 6 Hồ Ngọc Hiển (2007), “Nghĩa vụ của ngƣời đại diện và ngƣời ủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hòa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tƣơng ứng của Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03/2007, tr.
7 ngƣời có thể đạt đƣợc những nhu cầu thiết yếu của mình mà không cần trực tiếp tham gia xác lập, thực hiện giao dịch thì quan hệ đại diện còn đƣợc hình thành và hỗ trợ đắc lực trong việc quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thƣơng nhân, chủ nhà máy, xí nghiệp. Với vai trò quan trọng đó, quan hệ đại diện đã đƣợc các nhà làm luật quan tâm và xây dựng các định nghĩa theo đặc thù pháp luật của từng quốc gia. Chẳng hạn nhƣ: Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 đã quy định: “Đại diện là hợp đồng, theo đó, một ngƣời trao cho ngƣời khác thực hiện một công việc nhân danh và vì lợi ích của ngƣời đƣợc đại diện”7. Định nghĩa này cho thấy tồn tại một mối quan hệ hợp đồng giữa NĐD và ngƣời đƣợc đại diện, NĐD sẽ tiến hành một công việc “nhân danh” và “vì lợi ích” của ngƣời đƣợc đại diện.
Bộ luật Dân sự và Thƣơng mại Thái Lan năm 1925 định nghĩa về quan hệ đại diện nhƣ sau: “Đại diện là một hợp đồng, trong đó một ngƣời gọi là ngƣời đại diện đƣợc quyền hành động cho một ngƣời gọi là ngƣời đƣợc đại diện và đồng ý hành động nhƣ vậy”8. Các nhà làm luật đã thừa nhận rằng một ngƣời có thể biểu lộ ý chí của mình thông qua hành động của chính bản thân mình hoặc thông qua hành động của một ngƣời khác bằng cơ chế đại diện. Và tƣơng tự nhƣ những quan hệ dân sự khác, các bên phải có sự tự do thỏa thuận, tự do ý chí. Là một quan hệ phổ biến trong xã hội nên việc không làm vô hiệu hóa các hợp đồng đƣợc giao kết thông qua đại diện là rất quan trọng, bởi về phƣơng diện vĩ mô nó thúc đẩy phân công lao động xã hội và tăng cƣờng giao lƣu dân sự, và về phƣơng diện vi mô nó giúp cho các chủ thể thuận tiện hơn trong việc giao kết hợp đồng.9 Điều này có thể đƣợc chứng minh thông qua việc quan hệ đại diện không chỉ dừng lại là quan hệ đại diện giữa cá nhân và cá nhân, mà còn có thể là quan hệ giữa cá nhân với các chủ thể khác đƣợc thừa nhận bởi pháp luật.
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội đã có nhiều chủ thể có tƣ cách pháp lý khác nhau xuất hiện và tham gia vào quan hệ đại diện. Đặc biệt, là sự ra đời của pháp nhân – công ty trên cơ sở tự do ý chí của con ngƣời, xuất phát từ nhu cầu về tự do lập hội và tự do kinh doanh. Khi đáp ứng đƣợc những điều kiện luật định thì các thực thể này đƣợc xem là một chủ thể pháp lý độc lập, có những quyền hạn và nghĩa vụ nhất định. Mặc dù đƣợc nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật nhƣng pháp nhân vẫn chỉ là một nhóm ngƣời có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản riêng và tự chịu 7 Điều 1984 Bộ luật Dân sự Pháp 1804 (French Civil Code), https://www.org/research/government/code/book3/c_title13.html#chapter1, truy cập ngày 15/6/2020 8 Điều 797 Bộ luật dân sự và Thƣơng mại Thái Lan 1925 (Thailand Civil and Commercial Code), https://www.com/law-texts/thailand-civil-code-part-2.html#770, truy cập ngày 15/6/2021 9 Ngô Huy Cƣơng, tlđd (4), tr.
8 trách nhiệm bằng chính tài sản đó mà không có một hình hài cụ thể nhƣ một con ngƣời10. Vì vậy, khi muốn tham gia vào các quan hệ xã hội và thực hiện các trách nhiệm pháp lý của mình thì công ty phải thông qua hành động của một cá nhân. Từ đó hình thành nên quan hệ đại diện giữa bên đƣợc đại diện là công ty và bên đại diện là một cá nhân. Ngoài ra, sự phát triển của pháp luật công ty (Company Law) và sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, kiểm soát công ty đã làm tiền đề cho sự xuất hiện lý thuyết về đại diện11.
Nhƣ đã phân tích ở trên, công ty là một tập thể ngƣời có cơ cấu tổ chức phức tạp, có sự phân chia lao động ở mức độ cao. Với những công ty có quy mô lớn, có nhiều địa điểm kinh doanh, và kéo theo đó là sự gia tăng số lƣợng ngƣời lao động thì chủ sở hữu doanh nghiệp chắc chắn không thể tự mình quản lý và điều hành đƣợc doanh nghiệp. Chƣa kể đến không phải chủ sở hữu nào cũng có năng lực điều hành và quản lý. Bởi vì chủ sở hữu thƣờng là những cổ đông có nguồn lực về tài chính hay là những cá nhân có ý tƣởng kinh doanh và họ chỉ có thế mạnh trong một số lĩnh vực nhất định.
Vì vậy, để họ kiêm luôn vai trò quản lý, điều hành doanh nghiệp sẽ dẫn đến doanh nghiệp hoạt động thiếu hiệu quả. Thế nên, các chủ sở hữu thƣờng sẽ chọn một ngƣời trong công ty hoặc thuê một cá nhân bên ngoài có năng lực để quản lý, điều hành doanh nghiệp, thƣờng đƣợc gọi với chức danh là Giám đốc, Tổng giám đốc. Tuy nhiên, việc tách bạch quyền sở hữu và quyền quản lý, kiểm soát công ty cũng có khả năng tiềm ẩn nhiều rủi ro khiến cho doanh nghiệp hoạt động thiếu hiệu quả, nguyên nhân xuất phát từ những mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ sở hữu và ngƣời quản lý trong doanh nghiệp. “Với vị trí của mình, ngƣời quản lý công ty đƣợc cho là luôn có xu hƣớng tƣ lợi và không siêng năng, mẫn cán, và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay ngƣời thứ ba của mình chứ không phải cho công ty.
Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết rằng, các cổ đông cần thƣờng xuyên giám sát hoạt động của ngƣời quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình12”. Ngƣời quản lý suy cho cùng vẫn là một ngƣời lao động đi làm thuê cho chủ doanh nghiệp, khi đƣợc tập trung nhiều quyền lực trong tay, họ có thể có những hành động không đúng đắn gây thiệt hại cho doanh nghiệp, vì lợi ích của mình mà quên đi lợi ích của chủ sở hữu. Đặc biệt là khi ngƣời quản lý phải đƣa ra những quyết định có ảnh hƣởng tới quyền lợi của chính bản thân họ hoặc ngƣời thân thích. Chính vì vậy, chủ sở hữu phải đặt ra những giới hạn và có cơ chế kiểm 10 Khoản 1 Điều 74 BLDS 2015 11 Mai Thị Ngân Hà (2020), Pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty, Luận văn thạc sĩ Luật, Trƣờng Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh, Tr.22 12 Bùi Xuân Hải, tlđd (2), tr.22-23 9 soát hành vi của ngƣời quản lý để tránh những thiệt hại có thể xảy đến cho doanh nghiệp. Tóm tại, học thuyết đại diện đã chỉ ra rằng quan hệ đại diện trong doanh nghiệp chính là mối quan hệ giữa cổ đông và ngƣời quản lý công ty. Sự phát triển của pháp luật công ty và cơ chế kiểm soát giữa ngƣời chủ và ngƣời quản lý chính là tiền đề hình thành nên chế định về NĐDTPL của doanh nghiệp ngày nay.