Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Chế định các biện pháp ngăn chặn theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Phúc tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TSKH. Lê Văn Cảm và TS. Trần Quang Tiệp. Công trình thuộc chuyên ngành Luật hình sự (mã số: 62384001), bảo vệ năm 2023.

Thông tin hành chính Nội dung chi tiết
Đề tài Chế định các biện pháp ngăn chặn theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Phúc
Người hướng dẫn khoa học 1. TSKH. Lê Văn Cảm
2. TS. Trần Quang Tiệp
Cơ sở đào tạo Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Mã số chuyên ngành 62384001
Năm công bố / bảo vệ 2023

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự (TTHS), các biện pháp ngăn chặn (BPNC) là nhóm biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa giữ vị trí trung tâm nhằm chủ động ngăn chặn tội phạm, vô hiệu hóa nguy cơ người thực hiện hành vi nguy hiểm bỏ trốn, cản trở việc xác định sự thật khách quan của vụ án, tiêu hủy chứng cứ hoặc tiếp tục phạm tội mới, đồng thời bảo đảm cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Tuy nhiên, việc áp dụng các BPNC tác động trực tiếp và hạn chế nghiêm ngặt các quyền cơ bản của con người, quyền công dân được Hiến pháp bảo vệ (như quyền tự do thân thể, tự do đi lại, cư trú, tài sản).

Thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua cho thấy tồn tại nhiều hạn chế, bất cập: lạm dụng bắt khẩn cấp, áp dụng tạm giam tràn lan, kéo dài thời hạn tạm giam quá hạn, thậm chí xảy ra các hiện tượng vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, nhục hình, làm chết người và trung bình hàng năm có gần một trăm trường hợp bị oan sai do việc áp dụng các BPNC trái pháp luật gây ra. Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành vẫn chưa có quy phạm đưa ra định nghĩa pháp lý chính thức, thống nhất và toàn diện về BPNC; nhiều quy định về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng, thay thế, hủy bỏ còn chồng chéo, tạo ra khoảng trống lớn giữa lý luận lập pháp và thực tiễn áp dụng. Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về chế định BPNC là yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn tư pháp.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về chế định BPNC trong luật TTHS Việt Nam, xây dựng khái niệm khoa học hoàn chỉnh, phân biệt BPNC với các biện pháp cưỡng chế khác và xây dựng các tiêu chí phân loại khoa học.
  2. Hệ thống hóa các nguyên tắc pháp lý chỉ đạo việc áp dụng, thay thế, hủy bỏ BPNC và phân tích lịch sử hình thành, phát triển của chế định này trong pháp luật TTHS Việt Nam.
  3. Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật TTHS hiện hành về chế định BPNC, đánh giá khách quan thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ BPNC và thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai.
  4. Xác định phương hướng, quan điểm chỉ đạo và đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định BPNC trong giai đoạn cải cách tư pháp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm lý luận khoa học luật TTHS, hệ thống quy phạm pháp luật TTHS Việt Nam điều chỉnh chế định BPNC qua các thời kỳ lịch sử và thực tiễn thi hành các biện pháp này của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật TTHS Việt Nam tập trung từ BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan (BLHS, Hiến pháp 1992, Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009) cùng các báo cáo tổng kết thực tiễn tư pháp trong phạm vi toàn quốc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước được tổng thuật

Tác giả đã tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu lý luận pháp lý liên quan đến chế định BPNC:

1. Nhóm các công trình khoa học pháp lý nước ngoài:

  • Z. Enhikeev: Xác định BPNC là một phạm trù đặc biệt mang ý nghĩa phòng ngừa. Luận án ghi nhận giá trị phòng ngừa nhưng chỉ ra hạn chế là chưa xác định rõ căn cứ, đối tượng và chủ thể áp dụng.
  • Đavưđop (Davydov): Tiếp cận BPNC dưới góc độ biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn bỏ trốn và cản trở điều tra; xác định căn cứ áp dụng bao gồm cả khả năng cản trở và chứng cứ khẳng định người đó đã thực hiện tội phạm.
  • Iu. Livsic (Livshits): Xác định BPNC là biện pháp cưỡng chế nhà nước có đặc điểm phòng ngừa, được áp dụng trong trường hợp rõ ràng cần thiết; đồng thời khẳng định sự thuận tiện trong điều tra không thể là căn cứ pháp luật để hạn chế quyền tự do thân thể của công dân.
  • M. Strogovich: Phân tích BPNC là biện pháp cưỡng chế hạn chế tự do của bị cáo để ngăn ngừa trốn tránh; phân biệt rõ BPNC không phải là hình phạt vì áp dụng cho người bị buộc tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực.
  • Karpeds: Đồng nhất việc áp dụng BPNC với sự bắt đầu thực thi trách nhiệm hình sự (TNHS). Luận án phản bác quan điểm này vì cơ sở thực hiện TNHS chỉ xuất hiện khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
  • Kôvriga, Pêtrukhin, Grôzincki: Kôvriga tiếp cận căn cứ áp dụng từ việc vi phạm nghĩa vụ tố tụng; Pêtrukhin nhấn mạnh căn cứ áp dụng là sự dự báo có cơ sở về khả năng thực hiện hành vi bất lợi; Grôzincki khẳng định nguyên tắc trong một thời điểm không được áp dụng đồng thời nhiều BPNC đối với một đối tượng.

2. Nhóm các công trình khoa học pháp lý trong nước:

  • Từ điển Luật học (Viện Khoa học Pháp lý) và Từ điển nghiệp vụ phổ thông (Bộ Nội vụ): Đưa ra các định nghĩa về BPNC dưới góc độ thuật ngữ pháp lý và nghiệp vụ phòng chống tội phạm.
  • Sách chuyên khảo và đề tài nghiên cứu: Công trình của TS. Trịnh Văn Thanh nghiên cứu hệ thống BPNC dưới góc độ thực tiễn của lực lượng Cảnh sát nhân dân; TS. Nguyễn Văn Điệp phân tích bản chất cưỡng chế của BPNC; TS. Nguyễn Vạn Nguyên nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp ngăn chặn và khẳng định BPNC không mang tính chất trừng trị; TS. Nguyễn Duy Thuân phân tích mục đích áp dụng; bài viết của tác giả Nguyễn Mai Bộ; nghiên cứu của TS. Trần Quang Tiệp về căn cứ tạm giữ; TS. Hoàng Thị Minh Sơn về biện pháp giám sát người chưa thành niên; PGS.TS. Đỗ Ngọc Quang về điều kiện áp dụng BPNC.
  • Hệ thống giáo trình đại học: Giáo trình Luật TTHS của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, và Trung tâm Đào tạo từ xa - Đại học Huế.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến BPNC, các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận cục bộ ở từng biện pháp riêng lẻ, hoặc có sự nhầm lẫn giữa căn cứ áp dụng với mục đích áp dụng, giữa BPNC với hình phạt và các biện pháp cưỡng chế TTHS khác. Đặc biệt, chưa có công trình nào xây dựng được định nghĩa khoa học hoàn chỉnh bao quát đủ 6 yếu tố cấu thành (khái niệm, bản chất, căn cứ, chủ thể, đối tượng, phạm vi - mục đích), đồng thời hệ thống hóa 3 nhóm nguyên tắc chỉ đạo gồm 21 nội dung cụ thể và giải quyết đồng bộ mối quan hệ giữa áp dụng BPNC với trách nhiệm bồi thường oan sai trong bối cảnh cải cách tư pháp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh về tư pháp ("cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", bảo vệ công lý và quyền con người), và các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp (Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X).

Khung phân tích khái niệm BPNC được luận án thiết lập dựa trên 6 yếu tố bản chất:

  1. Khái niệm ngôn ngữ học và pháp lý: Kết hợp nội hàm động từ "ngăn chặn" (chặn lại, làm hạn chế khả năng gây tác hại) và danh từ "biện pháp" (cách thức tiến hành giải quyết vấn đề cụ thể) để xác định BPNC là cách thức chặn lại khả năng gây tác hại của tội phạm.
  2. Bản chất pháp lý: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa, vận hành theo phương pháp điều chỉnh "Quyền uy", mang tính phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng.
  3. Căn cứ áp dụng: Gồm 2 nhóm tài liệu thực tế: (i) tài liệu phản ánh khả năng cản trở xác định sự thật, bỏ trốn, tiếp tục phạm tội; (ii) tài liệu, chứng cứ khẳng định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội.
  4. Chủ thể áp dụng: Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và công dân (trong trường hợp bắt quả tang).
  5. Đối tượng bị áp dụng: 3 nhóm đối tượng gồm người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, và bị cáo.
  6. Phạm vi và mục đích áp dụng: Thực hiện trong các giai đoạn TTHS (điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm) nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích quy phạm và tổng hợp: Mổ xẻ các điều luật trong Hiến pháp năm 1992, BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003, BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể: Nghiên cứu quá trình hình thành, biến đổi và hoàn thiện của chế định BPNC qua các thời kỳ lập hiến và lập pháp tại Việt Nam.
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quan điểm của các học giả luật học Xô viết, Nga, phương Tây và Việt Nam; so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực tố tụng quốc tế.
  • Phương pháp thống kê, tổng kết thực tiễn: Phân tích số liệu thực tiễn về tình hình áp dụng bắt, tạm giữ, tạm giam, các vụ án oan sai và tình hình bồi thường thiệt hại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về chế định các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề nền tảng về mặt lý luận của chế định BPNC, chia thành 3 mục nội dung chính:

1. Khái niệm, phân biệt và phân loại các biện pháp ngăn chặn

  • Định nghĩa khoa học do tác giả xác lập: "Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, khi có căn cứ áp dụng nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự."
  • Phân biệt BPNC với các biện pháp cưỡng chế TTHS khác:
    • Về nội dung: BPNC hạn chế quyền tự do thân thể, đi lại, cư trú hoặc tài sản; mỗi thời điểm chỉ áp dụng một BPNC. Các biện pháp cưỡng chế khác (khám xét, kê biên, áp giải...) không tước hay hạn chế các quyền này theo cùng phương thức.
    • Về đối tượng: BPNC chỉ áp dụng cho 3 nhóm đối tượng (người liên quan chưa khởi tố, bị can, bị cáo); các biện pháp cưỡng chế khác áp dụng diện rộng hơn (cả người làm chứng, người bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan...).
    • Về số lượng: Hệ thống BPNC gồm 7 biện pháp cụ thể (bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền/tài sản có giá trị để bảo đảm, giám sát người chưa thành niên phạm tội theo Điều 304); trong khi các biện pháp cưỡng chế khác có số lượng nhiều, không tạo thành hệ thống khép kín.
  • Phân loại hệ thống BPNC theo 3 tiêu chí:
Tiêu chí phân loại Nhóm biện pháp Danh mục biện pháp cụ thể Ý nghĩa pháp lý - thực tiễn
Theo phương thức tác động Tác động thể chất Bắt người, tạm giữ, tạm giam Tác động trực tiếp lên thân thể, đòi hỏi trình tự kiểm soát nghiêm ngặt
Tác động tâm lý Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền/tài sản bảo đảm, giám sát người chưa thành niên Tạo ràng buộc nghĩa vụ, phát huy vai trò xã hội hóa của gia đình và cộng đồng
Theo mức độ cách ly xã hội Khởi đầu cách ly Bắt khẩn cấp, bắt quả tang, bắt theo lệnh truy nã, bắt bị can/bị cáo để tạm giam Đưa đối tượng từ ngoài xã hội vào nơi giam giữ, đòi hỏi nghiệp vụ phối hợp cao
Buộc cách ly hoàn toàn Tạm giữ, tạm giam Cách ly đối tượng tại nhà tạm giữ/trại tạm giam; cảnh báo nguy cơ quá tải cơ sở giam giữ
Không buộc cách ly Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền/tài sản bảo đảm, giám sát người chưa thành niên Cho phép đối tượng sinh hoạt tại cộng đồng dưới sự quản lý của cơ quan chức năng
Theo sự phê chuẩn của VKS Bắt buộc phải có phê chuẩn Bắt khẩn cấp, bắt bị can/bị cáo để tạm giam, gia hạn tạm giữ, tạm giam, đặt tiền/tài sản Tăng cường trách nhiệm kiểm sát tư pháp, kiểm soát chặt chẽ các biện pháp nghiêm khắc
Không cần phê chuẩn Bắt quả tang, bắt truy nã, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, giám sát người chưa thành niên Tạo tính chủ động, kịp thời xử lý các tình huống khẩn cấp, phạm tội quả tang

2. Những nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn

Luận án xác lập 3 nhóm nguyên tắc cốt lõi với 21 nội dung chi tiết:

  • Nguyên tắc sử dụng BPNC để đấu tranh, xử lý tội phạm (7 nội dung): (1) Huy động toàn bộ hệ thống 7 biện pháp phù hợp từng loại tội phạm; (2) Tuyệt đối không sử dụng BPNC để giải quyết tranh chấp hành chính, kinh tế, dân sự (chống hình sự hóa quan hệ dân sự); (3) Áp dụng dựa trên chứng cứ thực tế thu thập hợp pháp ("án tại hồ sơ"); (4) Phát huy sức mạnh toàn xã hội tham gia tố tụng; (5) Kết hợp chặt chẽ việc ngăn chặn với phòng ngừa xã hội; (6) Kiên quyết áp dụng, khắc phục tâm lý chùn tay, e ngại bồi thường oan sai; (7) Gắn liền pháp chế XHCN với tôn trọng quyền công dân.
  • Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (7 nội dung): (1) Chỉ áp dụng khi có căn cứ và thực sự cần thiết; (2) Tuân thủ nghiêm ngặt thẩm quyền luật định; (3) Chấp hành đúng trình tự, thủ tục; (4) Tuân thủ bắt buộc thủ tục phê chuẩn của Viện kiểm sát đối với các biện pháp luật định; (5) Nâng cao nghĩa vụ chấp hành của đối tượng và cơ quan giám sát; (6) Các quy định pháp luật phải minh bạch, không mâu thuẫn; (7) Bắt buộc cơ quan tố tụng phải bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự cho người bị oan.
  • Nguyên tắc dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa (7 nội dung): (1) Thể chế hóa đường lối bảo vệ quyền con người của Đảng; (2) Mở rộng và bảo đảm thực thi các quyền tố tụng của người tham gia tố tụng; (3) Thực hiện quyền lực nhân dân ủy quyền thông qua pháp luật và thu hút nhân dân tham gia tố tụng; (4) Minh định rõ ràng quyền, nghĩa vụ giữa cơ quan tố tụng và đối tượng bị áp dụng, nghiêm cấm bức cung, nhục hình; (5) Xác lập trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc đối với người tiến hành tố tụng có hành vi sai phạm; (6) Loại trừ tính chất trừng phạt, nhục hình, hạ thấp phẩm giá con người ra khỏi BPNC; (7) Hoàn thiện các quy định nhân đạo về đối tượng đặc thù (phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ, người già yếu, bệnh nặng, chăm sóc người thân thích và bảo quản tài sản người bị giam giữ).

3. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định các biện pháp ngăn chặn

Tác giả phân tích tiến trình phát triển của chế định BPNC trong pháp luật TTHS Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, giai đoạn kháng chiến, thời kỳ thực hiện BLTTHS năm 1988 đến BLTTHS năm 2003, chỉ ra quy luật phát triển theo hướng ngày càng dân chủ hóa, minh bạch hóa và tôn trọng quyền con người.


Chương 2: Những quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về chế định các biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định và thực tiễn thi hành:

  • Phân tích quy phạm thực định: Mổ xẻ từng điều luật điều chỉnh 7 BPNC trong BLTTHS năm 2003 (từ Điều 79 đến Điều 93 và Điều 304). Tác giả chỉ ra các điểm bất cập trong quy định về căn cứ bắt khẩn cấp (Điều 81), căn cứ tạm giữ (Điều 86), quy định về tạm giam đối với các loại tội phạm (Điều 88), cũng như sự thiếu khả thi của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm (Điều 93).
  • Thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ BPNC: Phân tích thực trạng thực hiện các lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam tại các địa phương. Tác giả chỉ rõ các sai phạm phổ biến: lạm dụng bắt khẩn cấp khi chưa đủ yếu tố khẩn cấp; tình trạng "tiện đâu giam đấy" biến việc tạm giữ, tạm giam thành công cụ phục vụ điều tra thay vì biện pháp phòng ngừa; gia hạn tạm giam quá hạn; không kịp thời thay thế, hủy bỏ BPNC khi căn cứ áp dụng không còn.
  • Thực tiễn giải quyết bồi thường oan sai: Đánh giá thực trạng thực hiện Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. Luận án nhấn mạnh các rào cản trong việc giải quyết bồi thường cho gần một trăm người bị oan sai hàng năm do áp dụng sai BPNC, bao gồm thủ tục phức tạp, tâm lý e ngại nhận sai của cơ quan tiến hành tố tụng và sự chậm trễ trong việc phục hồi danh dự cho nạn nhân.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chế định các biện pháp ngăn chặn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng

Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Sự cần thiết hoàn thiện: Xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp, thực hiện cải cách tư pháp và khắc phục các bất cập của thực tiễn xét xử.
  • Quan điểm xây dựng pháp luật: Quán triệt đường lối của Đảng; bảo đảm tính đồng bộ giữa pháp luật hình sự và tố tụng hình sự; kết hợp hài hòa giữa yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm với yêu cầu bảo vệ quyền công dân; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp quốc tế.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện lập pháp: Bổ sung định nghĩa pháp lý về BPNC vào BLTTHS; quy định rõ ràng, chặt chẽ căn cứ áp dụng từng biện pháp (đặc biệt là bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam); hoàn thiện cơ chế áp dụng các biện pháp thay thế tạm giam (bảo lĩnh, đặt tiền bảo đảm); bổ sung các quy định bảo vệ quyền của người bị tạm giữ, tạm giam.
    2. Nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường vai trò kiểm sát của Viện kiểm sát trong toàn bộ quá trình áp dụng BPNC; nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất các nhà tạm giữ, trại tạm giam; thực hiện nghiêm minh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xử lý kỷ luật, hình sự người có thẩm quyền vi phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng hoàn chỉnh định nghĩa khoa học về BPNC trong luật TTHS dựa trên phân tích đa chiều 6 yếu tố cấu thành.
  • Phân định rõ ràng ranh giới pháp lý giữa BPNC với hình phạt và các biện pháp cưỡng chế TTHS khác, khắc phục các quan điểm nhầm lẫn tồn tại trong khoa học pháp lý.
  • Xây dựng hệ thống phân loại BPNC hoàn chỉnh dựa trên 3 tiêu chuẩn khoa học (phương thức tác động, mức độ cách ly xã hội, thẩm quyền phê chuẩn của Viện kiểm sát).
  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc 3 nhóm nguyên tắc chỉ đạo với 21 nội dung cụ thể chi phối toàn bộ hoạt động áp dụng, thay thế, hủy bỏ BPNC.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Nhận diện toàn diện các tồn tại, nguyên nhân của tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp, tạm giam quá hạn, bức cung nhục hình và làm oan người vô tội trong thực tiễn tư pháp Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và giải pháp tổ chức thực thi đồng bộ nhằm hoàn thiện chế định BPNC trong BLTTHS, nâng cao trách nhiệm giải trình và bảo đảm quyền con người.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo cứu các quy phạm thực định chủ yếu dựa trên khung khổ BLTTHS năm 2003 và các số liệu thực tiễn tổng kết trong giai đoạn thi hành luật này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đánh giá tác động của chế định BPNC trong bối cảnh thi hành các đạo luật tư pháp mới, nghiên cứu các mô hình tư pháp tiên tiến về kiểm soát tư pháp đối với các lệnh bắt, giam giữ (như cơ chế Thẩm phán giám sát bắt giữ) và cơ chế bồi thường oan sai theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho nhiều đối tượng:

Nhóm đối tượng Giá trị tham khảo chính
Cơ quan lập pháp Tham khảo các kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy phạm về căn cứ, thủ tục áp dụng 7 biện pháp ngăn chặn và cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp
Cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) Cung cấp tài liệu nghiệp vụ chuẩn xác về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng, thay thế, hủy bỏ BPNC, hạn chế tối đa nguy cơ sai phạm, oan sai
Giảng viên và nhà nghiên cứu Cung cấp hệ thống tài liệu lý luận chuyên sâu, các khái niệm, phân loại và hệ nguyên tắc chuẩn mực phục vụ giảng dạy luật TTHS
Học viên, nghiên cứu sinh Nguồn tài liệu tham khảo phong phú về phương pháp tiếp cận nghiên cứu luật học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Câu hỏi thường gặp

1. Biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự được tác giả định nghĩa như thế nào?

Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định trong BLTTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo, người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, khi có căn cứ áp dụng nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

2. Sự khác biệt cốt lõi giữa biện pháp ngăn chặn và hình phạt là gì?

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền lợi của người phạm tội với mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội, chỉ do Tòa án quyết định bằng một bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Ngược lại, BPNC không phải là hình phạt, không mang tính chất trừng trị hay trả thù, được áp dụng đối với người chưa bị kết tội nhằm mục đích phòng ngừa việc tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc cản trở quá trình giải quyết vụ án.

3. Hệ thống các biện pháp ngăn chặn trong luật TTHS Việt Nam gồm những biện pháp nào?

Hệ thống BPNC gồm 7 biện pháp: (1) Bắt người (gồm bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can/bị cáo để tạm giam); (2) Tạm giữ; (3) Tạm giam; (4) Cấm đi khỏi nơi cư trú; (5) Bảo lĩnh; (6) Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; (7) Giám sát người chưa thành niên phạm tội (Điều 304 BLTTHS).

4. Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn bao gồm những nhóm tài liệu nào?

Căn cứ áp dụng BPNC gồm 2 nhóm tài liệu: (1) Nhóm tài liệu chỉ ra khả năng đối tượng cản trở xác định sự thật vụ án, trốn tránh điều tra, xét xử, thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội; (2) Nhóm tài liệu, chứng cứ khẳng định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội (như bắt quả tang, tự thú, đầu thú, tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, lỗi cố ý/vô ý, hậu quả thiệt hại).

5. Những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là gì?

Gồm 3 nhóm nguyên tắc với 21 nội dung: (1) Nguyên tắc sử dụng các BPNC để đấu tranh, xử lý tội phạm; (2) Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; (3) Nguyên tắc dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Phúc là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định biện pháp ngăn chặn theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tác giả đã xây dựng thành công định nghĩa khoa học hoàn chỉnh, phân loại logic và xác lập hệ nguyên tắc pháp lý cốt lõi cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Các đề xuất, giải pháp hoàn thiện lập pháp và thực thi được luận án đưa ra có giá trị khoa học cao, đóng góp thiết thực cho công cuộc cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người tại Việt Nam.