Luận văn: Phân tích chất trữ tình trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Tổng hợp và phân tích sâu sắc chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Bài viết làm rõ qua hệ thống nhân vật, tình huống và ngôn ngữ đặc sắc.

Trường đại học

Trường đại học vinh

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

147
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Chất Trữ Tình Trong Truyện Ngắn

Chất trữ tình là một yếu tố quan trọng trong sáng tác văn học hiện đại, thể hiện sự giao thoa giữa các thể loại văn học. Trong truyện ngắn, chất trữ tình không chỉ là cảm xúc bề ngoài mà là một hệ thống cảm nhận sâu sắc về cuộc sống. Nguyễn Ngọc Tư - một nhà văn nữ nổi bật của văn xuôi Việt Nam đương đại - đã khéo léo kết hợp chất trữ tình với yếu tố tự sự, tạo ra những tác phẩm độc đáo. Chất trữ tình trong truyện ngắn của tác giả này phản ánh những tâm trạng phức tạp, những nỗi buồn ẩn chứa của con người. Đây không phải là cảm xúc thoáng qua mà là một hành trình khám phá tâm hồn nhân vật, qua đó giúp độc giả cảm thông với những hoàn cảnh cuộc sống đa dạng.

1.1. Định Nghĩa Chất Trữ Tình Và Vai Trò Của Nó

Chất trữ tình là biểu hiện của tâm trạng, cảm xúc chủ quan của tác giả và nhân vật. Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chất trữ tình không chỉ là yếu tố trang trí mà là cốt lõi giúp xây dựng bối cảnh tâm lý. Nó thể hiện sự lựa chọn từng chi tiết, hình ảnh để truyền tải cảm xúc sâu sắc. Vai trò của chất trữ tình là tạo ra sự đồng cảm giữa nhân vật và độc giả, làm cho câu chuyện trở nên sống động, ấm áp và đầy ý nghĩa nhân văn.

1.2. Sự Khác Biệt Giữa Chất Trữ Tình Và Chất Thơ

Mặc dù có sự giao thoa, chất trữ tìnhchất thơ vẫn là hai khái niệm khác biệt. Chất thơ tập trung vào cái đẹp tuyệt đối, hình ảnh liên tưởng, trong khi chất trữ tình hướng tới biểu đạt cảm xúc cá nhân, tâm trạng chủ quan. Trong truyện ngắn, chất trữ tình thường gắn liền với nhân vật và tình huống cụ thể, còn chất thơ có tính trừu tượng, mở rộng hơn. Nguyễn Ngọc Tư đã biết cân bằng hai yếu tố này để tạo nên phong cách riêng biệt.

II. Chất Trữ Tình Thể Hiện Qua Tình Huống Trong Truyện Ngắn

Tình huống là cơ sở để chất trữ tình hiển hiện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Tác giả thường chọn những tình huống lưu lạc, bi kịch tình yêu hay bi kịch gia đình để thể hiện chất trữ tình sâu sắc. Những tình huống này không chỉ là sự kiện mà còn là "sân khấu" để nhân vật bộc lộ tâm sự, những mong muốn thầm kín, những nỗi đau không thể nói ra. Chất trữ tình thông qua tình huống giúp độc giả hiểu rõ hơn về nội tâm nhân vật, về những rối ren của cuộc sống. Sự lựa chọn tình huống của Nguyễn Ngọc Tư phản ánh một tầm nhìn sâu sắc về con người và xã hội.

2.1. Tình Huống Lưu Lạc Và Con Người Cô Đơn

Tình huống lưu lạc trong truyện Nguyễn Ngọc Tư tạo nên chất trữ tình kịnh tích, buồn thương. Những nhân vật lưu lạc không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn là cô đơn tâm lý, xa rời cội nguồn. Chất trữ tình ở đây thể hiện qua sự khao khát, hoài niệm về quê hương, gia đình. Hình ảnh những con người chạy khắp nơi tìm kiếm chỗ dựa tạo nên sắc thái trữ tình đậm đà - vừa có sự chuyển động của tự sự, vừa có chiều sâu cảm xúc của lyrism.

2.2. Bi Kịch Tình Yêu Và Nỗi Đau Dang Dở

Bi kịch tình yêu là một trong những tình huống trữ tình điển hình trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Tình yêu không trọn vẹn, tình yêu phức tạp, tình yêu thầm lặng tạo nên chất trữ tình đau thương, ngậm ngùi. Chất trữ tình ở đây không phải oán trách hay tức giận mà là sự chấp nhận, hiểu thương và những câu hỏi dang dở về cuộc đời. Những tình huống này giúp Nguyễn Ngọc Tư thể hiện được vẻ đẹp của lặng lẽ trong tình yêu.

III. Nhân Vật Và Thể Hiện Chất Trữ Tình

Nhân vật trong truyện Nguyễn Ngọc Tư là những con người tình cảm, mang trong mình những nỗi đau, những mơ ước dang dở. Chất trữ tình thể hiện rõ nhất qua cách tác giả miêu tả tâm lý nhân vật, qua những ngoại hiện tinh tế. Những nhân vật này không phải các anh hùng hay những con người hoàn hảo mà là những con người thường, với những yếu đuối, những cô đơn, những nỗi buồn tích tụ từ cuộc sống. Thủ pháp miêu tả tâm lý của Nguyễn Ngọc Tư rất công phu, không cho thấy rõ ràng mà ẩn chứa, để độc giả tự khám phá. Chất trữ tình qua nhân vật tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của tác phẩm.

3.1. Miêu Tả Tâm Lý Và Ngoại Hiện Tinh Tế

Thủ pháp miêu tả tâm lý là cách Nguyễn Ngọc Tư thể hiện chất trữ tình sâu sắc. Tác giả không trực tiếp phát biểu cảm xúc mà gợi gắm, để độc giả cảm nhận qua những chi tiết nhỏ. Ngoại hiện - những biểu hiện bên ngoài như cử chỉ, ánh mắt, trang phục - trở thành cầu nối để hiểu nội tâm nhân vật. Chất trữ tình ẩn chứa trong những câu thoại lặng lẽ, những hành động bình thường nhưng đầy ý nghĩa.

3.2. Con Người Buồn Đau Trong Những Hoàn Cảnh Khác Nhau

Nguyễn Ngọc Tư tạo ra những con người buồn - đau trong nhiều hoàn cảnh: mặc cảm tội lỏi, bi kịch gia đình, tình yêu thầm lặng... Chất trữ tình ở đây không phải lamentations vô ý nghĩa mà là những câu hỏi sâu sắc về cuộc sống, nhân sinh quan. Mỗi nhân vật là một bản nhạc riêng về buồn - đau, tạo nên giai điệu trữ tình độc đáo và gây cảm động mạnh mẽ cho người đọc.

IV. Ngôn Ngữ Giọng Điệu Và Sự Hiện Hiện Của Chất Trữ Tình

Ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư là "quả sầu riêng" có mùi vị riêng, giàu chất thơchất trữ tình. Ngôn ngữ giàu cảm xúc, cảm giác giúp tạo nên bầu không khí tâm lý sâu sắc. Tác giả sử dụng hình ảnh biểu tượng, nhịp điệu hài hoà để làm tăng sắc thái trữ tình. Giọng điệu trữ tình của Nguyễn Ngọc Tư có ba nét chính: giọng cảm thương ngậm ngùi, giọng tưng tửng hóm hỉnh và giọng trữ tình triết lý. Chất trữ tình thể hiện qua ngôn ngữ và giọng điệu tạo nên một phong cách độc đáo, khiến tác phẩm của tác giả trở nên nhận diện được ngay từ cách viết đầu tiên.

4.1. Ngôn Ngữ Giàu Cảm Xúc Và Hình Ảnh Biểu Tượng

Ngôn ngữ trong truyện Nguyễn Ngọc Tư không chỉ là công cụ truyền tải thông tin mà là vận chuyển cảm xúc. Những từ lựa chọn, cấu trúc câu, hình ảnh biểu tượng đều góp phần thể hiện chất trữ tình. Những hình ảnh như sầu riêng, gió lẻ, ánh sáng hay bóng tối không chỉ là mô tả bề ngoài mà là biểu tượng của trạng thái tâm lý nhân vật. Ngôn ngữ hài hoà về âm thanh tạo nên nhịp điệu trữ tình khi đọc.

4.2. Ba Giọng Điệu Trữ Tình Đặc Trưng

Giọng cảm thương ngậm ngùi là giọng chính, khi tác giả kể lại những nỗi đau, mất mát. Giọng tưng tửng hóm hỉnh thể hiện sự chơi chữ, dung hoà giữa buồn và cười, tạo nên nhân tính ấm áp. Giọng trữ tình triết lý là khi tác giả phát biểu những suy ngẫm về cuộc sống qua những tình huống cụ thể. Ba giọng điệu này kết hợp tạo nên chất trữ tình phong phú của Nguyễn Ngọc Tư.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thuyết về chất trữ tình trong truyện Chương 2: Chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhìn từ tình huống Chương 3: Chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhìn từ nhân vật Chương 4: Chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhìn từ ngôn ngữ và giọng điệu. 11 Chƣơng 1 GIỚI THUYẾT VỀ CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN 1. Quan niệm chung về chất trữ tình 1. Chất trữ tình trong đời sống và nghệ thuật Trong cuộc sống, chất trữ tình là một khái niệm được nhắc đến khá phổ biến ở nhiều lĩnh vực.

Đây đó, chúng ta từng bắt gặp những cách nói như: bản nhạc trữ tình, khung cảnh trữ tình, vẻ đẹp trữ tình, áng tóc trữ tình, dòng sông trữ tình… Có thể thấy, ở những trường hợp trên, “trữ tình” được dùng với tư cách là một định ngữ, chỉ một sắc thái, một tính chất. Vậy có thể hiểu nội hàm của hai chữ trữ tình này như thế nào? Muốn hiểu điều này, có lẽ chúng ta phải đi tìm nguồn gốc của nó. Tính từ trữ tình trong tiếng Việt được dịch từ lyric/lyrical của tiếng Anh và một số ngôn ngữ châu Âu. Còn danh từ “tính chất trữ tình” là lyricalness xuất xứ từ lyre là tên một loại nhạc cụ dây mà các nhà thơ và ca sĩ hát rong ở Châu Âu thời xa xưa dùng để đệm cho các chuyện kể, bài hát, hay sử thi của họ.

Những chuyện kể ấy người ta gọi là lyricist, nó không chỉ có các sắc thái nhẹ nhàng, êm ái, du dương, tha thiết mà còn có cả hùng tráng, dữ dội, đau khổ, phẫn nộ… Trữ tình trong tiếng Việt lại là một từ gốc Hán. Theo nghĩa Hán tự, trữ là kéo ra, rút ra, bộc lộ, bộc bạch; tình là cảm xúc, tình cảm (tình cảm nói chung, không giới hạn hay loại trừ sắc thái nào). Tuy nhiên, nguời Việt hiện tại thường dùng từ gốc Hán trữ tình trong chất trữ tình như một tính từ chỉ sắc thái nhẹ nhàng, tha thiết… (trong âm nhạc), và sắc thái mềm mại, dịu dàng, nên thơ, hiền hoà, gợi cảm, mơ mộng… (trong hội hoạ và trong miêu tả các sự vật khác) Tóm lại, chất trữ tình trong đời sống thường được quan niệm như một sắc thái, tính chất thuộc bản chất của sự vật tồn tại một cách khách quan mà con người có thể cảm nhận được. Chất trữ tình trong văn học Trước hết, để tìm hiểu khái niệm chất trữ tình, chúng ta phải đi từ khái niệm trữ tình trong lí luận văn học.

Trữ tình là thuật ngữ của lí luận văn học được sử dụng trước hết để chỉ một loại hình văn học nhằm phân biệt với các loại hình văn học khác như tự sự, kịch. Trữ tình là một phương thức biểu hiện chủ 12 quan mà dấu hiệu của nó là cảm xúc của chủ thể tự biểu hiện với nhiều sắc thái khác nhau. Thế giới chủ quan với những suy nghĩ, đánh giá, cảm xúc thể hiện cái nhìn (quan điểm) trữ tình của chủ thể. Muốn biểu hiện được cái nhìn trữ tình ấy trong tác phẩm, chủ thể sáng tạo phải sử dụng những phương tiện, những cách thức nào đó.

Phương tiện, cách thức ấy, người ta gọi là bút pháp trữ tình hay nghệ thuật trữ tình: “Bút pháp trữ tình là một lối thể hiện cuộc sống thông qua sự bộc lộ tình cảm, cảm xúc của chủ thể sáng tạo” [66, 6]. Nhiều học giả đã nghiên cứu về thuật ngữ trữ tình trong văn học. Hêghen, nhà triết học cổ điển Đức nhận xét: “ở trữ tình có sự trùng hợp của chủ thể và khách thể trong một ngôi…Ở tự sự, nhân vật tách rời tác giả, được dùng làm nội dung cho tác giả, thì nhân vật trung tâm của tác phẩm trữ tình lại chính là người tạo ra tác phẩm, trước hết là thế giới bên trong của anh ta” [3, 346]. Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân định nghĩa: “cái nhìn trữ tình là sự thể hiện thái độ riêng của mình đối với thế giới xung quanh.

Bởi vậy, cái tôi tự biểu hiện có vai trò đặc biệt trong trữ tình… Cái nhìn trữ tình được thể hiện chủ yếu ở các tác phẩm thơ, nhưng cũng có thể được thể hiện ở văn xuôi và kịch nhất là khi tác giả văn xuôi muốn nói như những tuyên ngôn, định đề, hoặc nhân vật kịch độc thoại, tạo thành những đoạn tương đối độc lập” [3, 348]. Như vậy, khác với chất trữ tình trong đời sống thường được quan niệm như một cái gì tồn tại khách quan, chất trữ tình trong văn học là sự kết hợp thống nhất giữa những phẩm chất của đối tượng khách quan với cảm hứng sáng tạo, cái nhìn chủ quan của nhà văn. Tính chất trữ tình được quy định bởi cái nhìn (quan điểm, điểm nhìn) trữ tình của chủ thể sáng tạo và bút pháp trữ tình được sử dụng như là cách thức, phương tiện biểu hiện cái nhìn trữ tình ấy trong tác phẩm. Có thể thấy các nhà nghiên cứu lí luận đều giới thuyết khái niệm trữ tình trong sự đối sánh, phân biệt với tự sự và kịch.

Họ cũng khẳng định một thực tế là cái nhìn trữ tình không chỉ có ở các tác phẩm trữ tình. Ở bất kì một tác phẩm nào có cái nhìn trữ tình của chủ thể sáng tạo chi phối, có nghệ thuật trữ tình được sử dụng như một phương tiện để bộc lộ thế giới chủ quan thì ở tác phẩm đó có tồn tại chất trữ tình. Nói cách khác, đó là hiện tượng giao thoa giữa các thể loại văn học. Các yếu tố tự sự có thể xâm nhập vào tác phẩm thơ, đồng thời các tố trữ tình cũng thâm nhập vào văn xuôi tạo nên những thể tài lai ghép như thơ 13 tự sự - trữ tình, thơ văn xuôi, truyện ngắn trữ tình.

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ xin được đề cập đến chất trữ tình trong tác phẩm tự sự, cụ thể là truyện ngắn, từ đó cố gắng cắt nghĩa đặc điểm truyện ngắn trữ tình trên cơ sở nghiên cứu truyện ngắn nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Quan niệm về chất trữ tình của luận văn Chất trữ tình là một phẩm chất được tạo ra bởi nhiều yếu tố. Không chỉ ở tác phẩm trữ tình, mà ở hầu hết thể loại khác, chất trữ tình đều có thể được tồn tại, phát triển và chuyển hoá. Có thể hiểu chất trữ tình như là những yếu tố vốn làm nên tính đặc thù của thể loại trữ tình được các thể loại khác vay mượn để làm giàu thêm khả năng biểu đạt, tạo nên một phẩm chất thẩm mĩ đặc biệt, một đặc sắc nổi trội cho thể loại đó.

Các yếu tố của thể loại trữ tình được vay mượn tạo nên chất trữ tình là rất đa dạng, từ cái nhìn trữ tình và sự ưu tiên biểu hiện tâm tình chủ quan của người nghệ sĩ, việc miêu tả thế giới thiên về nắm bắt những nét tinh lọc, thi vị của thế giới khách quan, đến việc khám phá chiều sâu của đời sống nội tâm phong phú, phức tạp của con người và biểu hiện nó một cách tinh tế; từ sự tìm kiếm những vẻ đẹp sâu lắng bên trong con người đến lối viết đề cao ý nghĩa ám gợi của những hình ảnh, tính nhạc của những câu văn… Tất cả những nhân tố ấy nếu được thể hiện một cách hài hoà và nhất quán trong một tác phẩm thì có thể coi tác phẩm ấy mang đậm chất trữ tình. Cái lõi của chất trữ tình là bộc lộ tình cảm. Nhưng tình cảm không chỉ biểu hiện trong nội dung, mà tình cảm còn phải hoá thân vào các khía cạnh hình thức. Chính vì thế, tìm hiểu chất trữ tình trong một tác phẩm, chúng ta phải khảo sát trên rất nhiều phương diện để thấy sự xuyên thấm, hoà quyện giữa các yếu tố đó đã tạo nên chất trữ tình như thế nào trong tác phẩm chứ không nhìn nhận theo hướng cắt xẻ, nhỏ lẻ.

Chất trữ tình trong một tác phẩm không phải là phép cộng giản đơn của các yếu tố riêng lẻ. Chất trữ tình và chất thơ 1. Chất thơ Chất thơ là một khái niệm được nói đến khá nhiều. Có thể điểm qua những quan niệm của nhiều người cả trong lĩnh vực nghiên cứu lẫn sáng tác về chất thơ.

14 Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “Chất thơ là chỉ những sáng tác văn học (bằng văn xuôi hoặc văn vần) giàu cảm xúc, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu” [18, 310]. Hà Minh Đức cho rằng: “Chất thơ là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố. Những nhân tố này cũng có thể có trong nội dung cấu tạo của các thể loại khác, nhưng ở trong thơ được biểu hiện tập trung hơn và được hoà hợp, liên kết một cách vững chắc để tạo nên những phẩm chất mới… Chất thơ gắn liền với những rung động và những cảm xúc trực tiếp. Thơ là ở tấm lòng nhưng cũng chính là cuộc sống, thơ gắn liền với trí tưởng tượng và chất thơ cũng gắn liền với cái đẹp” [17].

Nói đến vị trí của chất thơ trong văn xuôi, Pauxtopxki có viết: “Văn xuôi là sợi cốt, thơ là sợi ngang. Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc giục, không dẫn dắt ta đi đâu cả” [42]. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cũng cho rằng: “Chất thơ của văn xuôi chính là sự phát hiện ra cái bên trong của đời sống nội tâm đa dạng, phong phú của con người” [66]. Từ những ý kiến trên, chúng ta có thể hiểu chất thơ cũng là một phẩm chất của mọi loại hình tác phẩm văn học, được xem xét trên nhiều khía cạnh, nhưng chủ yếu là được xem xét trong sự đối lập với chất văn xuôi.

Chất thơ thể hiện chiều sâu của thế giới nội tâm, nó có tính hướng nội. Còn chất văn xuôi có tính hướng ngoại, đó là hiện thực bề bộn, ngổn ngang của cuộc sống, có phàm tục, có thanh cao, có cái đẹp, cái xấu, có cái cao cả, cái tầm thường… Xét trên phương diện mĩ học, chất thơ được xem là cái đẹp của tâm hồn, của cuộc sống và cao hơn nữa là cuộc sống với một lí tưởng đẹp. Xét trên phương diện cảm hứng, chất thơ gắn liền với cảm hứng bay bổng, lãng mạn. Xét ở phương diện ngôn ngữ, chất thơ gắn liền với tính nhạc của lời văn.

Tìm hiểu chất thơ trong văn xuôi tức là tìm hiểu những đặc tính đặc thù của thể loại thơ đã được văn xuôi tiếp nhận và chuyển hoá làm nên màu sắc thẩm mĩ riêng biệt, độc đáo cho tác phẩm văn xuôi ấy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ