mở đầu cho việc thanh toán không dùng tiền mặt. Dịch vụ này có rất nhiều tiện ích: an toàn, nhanh chóng, chính xác, giảm chi phí. nó góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và càng khuyến khích họ gửi tiền vào Ngân hàng để nhờ Ngân hàng thanh toán hộ. Từ đó hình thành nên một dịch vụ mới rất quan trọng: tài khoản tiền gửi giao dịch, đây cũng được xem là một trong những bước quan trọng nhất của công nghệ Ngân hàng.
Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, hình thức thanh toán liên Ngân hàng đó phát triển lớn một bậc cao và thông dụng hơn và cũng có nhiều thể thức thanh toán mới xuất hiện: ủy nhiệm chi, nhờ thu, thanh toán bằng thẻ. • Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Thị trường chứmg khóan là hình thức phát triển cao của thị trường tài chính, tham gia vào đó đòi hỏi người đầu tư phải có trình độ chuyên môn và phải dự tính được những rủi ro thường rất cao của chứng khoán. Đòi hỏi không phải ai cũng có và ai cũng đáp ứng đủ, vậy nên các Ngân hàng trong quá trình phấn đấu để cung cấp đủ các dịch vụ tài chính để thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng đó bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán. SV: Nguyễn Thị Trang 5 Lớp: Ngân hàng B - K12 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Hoài Phương • Dịch vụ bảo hiểm, bảo lãnh: Do Ngân hàng có khả năng thanh toán cho một khách hàng là rất lớn và lại nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên rất có uy tín trong việc bảo lãnh cho khách hàng. Gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng ngày càng đa dạng và phát triển mạnh, Ngân hàng thường bảo lãnh để khách hàng có thể mua chịu hàng hóa, thiết bị, phát hành chứng khoán, vay tín dụng.Cũng từ sự uy tín mà từ lâu nay Ngân hàng đó bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả nếu khách hàng gặp rủi ro. Thường thì Ngân hàng hay kết hợp với hình thức tiết kiệm (nhân thọ) để đảm bảo cho khách hàng các hình thức tiết kiệm bình thường. • Quản lý Ngân quỹ: Các cá nhân và doanh nghiệp để đảm bảo mức lợi nhuận và độ an toàn cao nhất có thể của mình do vậy họ đó nhờ các Ngân hàng giữ hộ tiền và do có kinh nghiệm lâu năm trong việc quản lý Ngân quỹ và khả năng trong việc thu Ngân sách nên nhiều Ngân hàng đó cung cấp dịch vụ quản lý Ngân quỹ.
Trong đó, Ngân hàng sẽ quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tạm thời của các doanh nghiệp vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn để thu lợi nhuận cho công ty. • Tài trợ các hoạt động của chính phủ: Với khả năng tích tụ và tập trung một khối lượng lớn tiền vốn của các Ngân hàng và do nhu cầu chi tiêu lớn và cấp bách, trong khi thu không đủ của chính phủ nên chính phủ các nước đều luôn muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng. Ngày nay, vì chính phủ có quyền cấp giấy phép hoạt động và thực hiện kiểm soát Ngân hàng nên khi đó các Ngân hàng phải cam kết thực hiện ở một mức độ nào đó cho những chính sách của chính phủ và tài trợ cho chính phủ (mua trái phiếu chính phủ với một tỷ lệ nhất định hoặc cho vay ưu đãi cho các doanh nghiệp của chính phủ). Như vậy, ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các Ngân hàng ngày càng cung cấp nhiều hơn các dịch vụ về tài chính đáp ứng cho nhu cầu đang tăng của khách hàng.
Nhiều loại hình mới có chất lượng hơn được cung cấp đó gíup Ngân hàng tạo sự thuận tiện trong giao dịch, nâng cao sức cạnh tranh giữa các Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, tăng thu nhập lợi nhuận cho mình. SV: Nguyễn Thị Trang 6 Lớp: Ngân hàng B - K12 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Phương Như vậy,các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên tác động qua lại với nhau.Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động.
Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG 1. Khái niệm hoạt động tín dụng Trước hết, khái niệm Tín dụng được hiểu trên góc độ tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân tổ chức doanh nghiệp và các chủ thể khác). Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thảo thuận.
Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn và lãi cho bên cho vay khi khi đến hạn thanh toán. Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song cũng chứa đựng rủi ro cao nhất tại các NHTM. Để tồn tại và phát triển bền vững, hoạt động tín dụng phải đảm bảo an toàn và hiệu quả. Muốn vậy nó phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định.
Đó là người vay vốn phải đảm bảo vay vốn sử dụng đúng mục đích vay theo thỏa thuận. Khách hàng phải trả nợ và lãi vay đúng thời hạn theo hợp đồng tín dụng. Ngân hàng cho vay đối với những dự án khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ. Nhờ đó ngân hàng mới hoạt động an toàn và hiệu quả.
Phân loại hoạt động tín dụng tại NHTM: - Theo mục đích sử dụng vốn vay: + Tín dụng nhằm mục đích sản xuất kinh doanh + Tín dụng nhằm mục đích tiêu dùng - Theo thời gian: + Tín dụng ngắn hạn: Là khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng + Tín dụng trung hạn: Là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng-60 tháng + Tín dụng dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn trên 60 tháng trở đi SV: Nguyễn Thị Trang 7 Lớp: Ngân hàng B - K12 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Phương - Theo hình thức bảm đảm: + Cho vay có bảm đảm bằng tài sản + Cho vay không được bảo đảm nằng tài sản - Theo cách thức cho vay: + Cho vay trực tiếp + Cho vay gián tiếp - Theo phương thức cho vay: + Cho vay thấu chi + Cho vay trực tiếp từng lần + Cho vay theo hạn mức + Cho vay luân chuyển + Cho vay trả góp Hoạt động tín dụng của ngân hàng có vai trò vô cùng to lớn đối với nền kinh tế mỗi quốc gia. Có tác dụng khuyến khích thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tiêu dùng từ đó tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Để thấy được vai trò cũng như những lý thuyết lý luận cơ bản về tín dụng tiêu dùng là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng.
Chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp ở phần tiếp theo. Khái niệm tín dụng tiêu dùng Tín dụng tiêu dùng là một trong sản phẩm tín dụng nhằm hỗ trợ nguồn vốn cho khách hàng để khách hàng sử dụng vào mục đích tiêu dùng như mua sắm vật dụng gia đình, sữa chữa nhà ở, mua xe, mua nền nhà, làm kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi. mà có thể cần hoặc không cần tài sản đảm bảo. Như vậy ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về tín dụng tiêu dùng là: “Tín dụng tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng thỏa thuận với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định”.
SV: Nguyễn Thị Trang 8 Lớp: Ngân hàng B - K12 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Phương 1. Đối tượng khách hàng của hoạt động tín dụng tiêu dùng - Phân theo thu nhập: + Nhóm khách hàng có thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của nhóm người này thường hạn chế do nguồn thu nhập không đủ đáp ứng những nhu cầu mong muốn đa dạng của họ. Tuy nhiên nhu cầu chi tiêu của họ là không thể nào thiếu trong cuộc sống.
Vì vậy nếu có sản phẩm phương pháp hợp lý thì đây cũng là thị trường tiềm năng để khai thác trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay còn nhiều khó khăn. + Nhóm khách hàng có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng trưởng ngày càng mạnh mẽ bởi khoản tích lũy của nhóm này tuy ít song thu nhập trong tương lai của họ ổn định có thể chi trả cho nhu cầu tiêu dùng hiện tại. + Nhóm khách hàng có thu nhập cao: Nhóm khách hàng này thường cần đến khoản tín dụng này với tư cách là khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm các khoản thanh toán đặc biệt khi tiền của họ đã đầu tư dài hạn khác. Mặc dù khoản tiền tín dụng này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản của họ nhưng nó lại là món tiền lớn so với nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng rất quan tâm đến nhóm đối tượng này.
- Phân theo tình trạng công tác lao động: Nhu cầu tiêu dùng còn phụ thuộc nhiều vào ngành nghề, sự nghiệp của khách hàng. Phân theo nhóm này ta có thể chia ra các nhóm đối tượng khách hàng sau: + Cán bộ công nhân viên chức: Nhu cầu vay tín dụng đối với nhóm này chủ yếu là nhu cầu mua sắm phương tiện đi lại hoặc mua nhà .Đây là nhóm đối tượng có thu nhập ổn định, có năng lực tài chính rõ ràng và vững chắc, nguồn trả gốc và lãi thường chính là thu nhập hàng tháng từ lương, phụ cấp và các khoản khác của người vay, nguồn thu nhập để trả nợ này không phụ thuộc vào thiên tai, diễn biến thị trường, vì vậy nợ quá hạn hầu như không có, các ngân hàng cần khai thác triệt để nhóm đối tượng này.