Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, thông tin kế toán công bố trên báo cáo tài chính (BCTC) là kênh thông tin quan trọng giúp các đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp và cơ quan quản lý đưa ra quyết định kinh tế. Tuy nhiên, giữa kỳ vọng của người sử dụng và thực tế công bố thông tin vẫn tồn tại một khoảng cách đáng kể. Bộ phận tài chính - kế toán và ban điều hành doanh nghiệp thường có xu hướng lập báo cáo không phản ánh đầy đủ, trung thực tình hình hoạt động nhằm phục vụ các mục đích riêng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính hiệu quả của thị trường vốn.

Tại Việt Nam, dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý định hướng nhằm hoàn thiện khung khổ tài chính và hoạt động kiểm toán, việc thực thi tại các công ty niêm yết (CTNY) vẫn thiếu tính đồng nhất. Thực tế thống kê trên thị trường chứng khoán (TTCK) giai đoạn 2012–2015 cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp có số liệu BCTC thay đổi sau kiểm toán ở mức cao (năm 2014 lên tới khoảng 72% trong tổng số 643 công ty). Mặc dù vậy, tại thời điểm năm 2017, các công trình nghiên cứu trong nước đánh giá chất lượng thông tin kế toán công bố tiếp cận toàn diện từ các điều chỉnh của kiểm toán vẫn còn hạn chế. Do đó, tác giả Lê Thị Minh Hồng thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam – Nghiên cứu từ các điều chỉnh của kiểm toán" tại Học viện Ngân hàng.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu vai trò của các điều chỉnh kiểm toán đối với chất lượng thông tin kế toán công bố của các CTNY tại Việt Nam, từ đó đề xuất các kiến nghị nâng cao chất lượng BCTC. Đề tài xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  • Thứ nhất: Xác định các thuộc tính đánh giá chất lượng thông tin kế toán công bố của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
  • Thứ hai: Xác định tầm quan trọng của các điều chỉnh kiểm toán đến chất lượng thông tin BCTC.
  • Thứ ba: Đánh giá thực trạng chất lượng thông tin kế toán công bố và sự tác động của các điều chỉnh kiểm toán đến chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam để từ đó đưa ra những kiến nghị nâng cao chất lượng thông tin BCTC.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự tác động của các điều chỉnh kiểm toán đến chất lượng thông tin BCTC của các CTNY tại Việt Nam.
  • Đối tượng khảo sát: Thông tin BCTC trước và sau kiểm toán tại 95 CTNY thuộc các ngành nghề kinh doanh khác nhau trên hai sở giao dịch chứng khoán (HOSE và HNX).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 3 năm, từ năm 2014 đến năm 2016.
  • Dữ liệu nghiên cứu: Thông tin tài chính và phi tài chính được doanh nghiệp công bố trên báo cáo thường niên, báo cáo kiểm toán, BCTC trước và sau kiểm toán.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực và nghiên cứu thực chứng quốc tế và trong nước:

  • Khái niệm thông tin kế toán: Tác giả tiếp cận theo hai quan điểm. Quan điểm truyền thống (IASB, 2012) xác định BCTC là sản phẩm của kế toán tài chính, phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền qua các báo cáo định lượng (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh BCTC). Quan điểm mở rộng (Ali Shah; Ferdy Van Beest, 2009, 2013; Healy và Palepu, 2001) xem thông tin BCTC mang tính đa chiều, bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chính, công bố bắt buộc và công bố tự nguyện.
  • Đo lường chất lượng thông tin BCTC: Đề tài vận dụng quan điểm của Jonat và Blanchet (2000), kết hợp khung khái niệm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB, 2010) và Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB, 2010), cùng sự hội tụ IASB - FASB. Theo đó, chất lượng thông tin gồm hai đặc tính cơ bản (thích hợp, trình bày trung thực), bốn đặc tính bổ sung (có thể so sánh, có thể kiểm chứng, kịp thời, có thể hiểu được) và hai giới hạn chất lượng (trọng yếu, chi phí - lợi ích). Đồng thời, tác giả đối chiếu với 6 yêu cầu cơ bản của kế toán theo Chuẩn mực số 01 "Chuẩn mực chung" ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính (trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh).
  • Mô hình tạo lập thông tin BCTC chất lượng cao: Khóa luận tiếp thu mô hình của McFie (2006), phân định chất lượng BCTC qua ba hoạt động cốt lõi: lập số liệu, trình bày và công bố thông tin, chịu sự kiểm soát từ bên trong (Ủy ban kiểm toán) và bên ngoài (kiểm toán viên độc lập).
  • Lý luận về kiểm toán tài chính: Vận dụng định nghĩa của Alvin và cộng sự (2011), kiểm toán tài chính là quá trình thu thập, đánh giá bằng chứng để xác minh và bày tỏ ý kiến về mức độ trung thực, hợp lý của BCTC theo các chuẩn mực thiết lập, thông qua đó đưa ra các đề xuất điều chỉnh thông tin sai lệch trọng yếu.

Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận phối hợp phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp quy nạp: Rút ra nhận định về hạn chế của BCTC từ số liệu khảo sát thực tế để hình thành giải pháp.
  • Phương pháp suy luận: Xây dựng cơ sở lý thuyết và thiết lập thang đo, giả thuyết nghiên cứu từ các công trình đi trước.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, phân loại, tính toán tỷ trọng, tốc độ tăng trưởng và so sánh đối chiếu số liệu trước và sau kiểm toán bằng phần mềm Microsoft Excel.

Quy trình khảo sát được tổ chức theo hai hướng tiếp cận: phân tích chuỗi thời gian (2014–2016) nhằm kiểm chứng tính liên tục và tác động dài hạn của điều chỉnh kiểm toán; và phân tích dữ liệu cắt ngang theo nhóm ngành tại từng thời điểm. Quá trình xử lý dữ liệu trải qua ba bước: (1) Quan sát, thu thập BCTC trước và sau kiểm toán; (2) Đánh giá tổng hợp tác động của điều chỉnh kiểm toán đến lợi nhuận và tài sản; (3) Phân tích chi tiết từng khoản mục biến động và từng nhóm ngành. Dữ liệu sơ cấp được trích xuất từ các cổng thông tin tài chính chứng khoán chuyên dụng, trực tiếp là Vietstock.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan chất lượng thông tin kế toán công bố và các điều chỉnh của kiểm toán

Chương này tập trung làm rõ cơ sở lý luận về thông tin kế toán, vai trò của hoạt động kiểm toán độc lập và tổng quan lịch sử nghiên cứu thực chứng:

  • Khái quát sự hình thành của kiểm toán từ thời kỳ La Mã cổ đại đến sự ra đời của Luật Chứng khoán Liên bang Hoa Kỳ năm 1933 và Luật Giao dịch Chứng khoán năm 1934 sau cuộc đại khủng hoảng. Tại Việt Nam, quá trình phát triển kiểm toán độc lập gắn liền với công cuộc đổi mới từ thập niên 90, sự ra đời của Hội Kế toán Việt Nam năm 1994 (nay là VAA), hai công ty kiểm toán đầu tiên (VACO và AASC), Luật Kế toán năm 2003 cùng mạng lưới gần 150 doanh nghiệp kiểm toán với khoảng 11.000 kiểm toán viên hành nghề tại thời điểm khảo sát.
  • Phân tích vai trò của điều chỉnh kiểm toán đối với từng nhóm đối tượng sử dụng: Cơ quan Nhà nước và cơ quan thuế (chống thất thu ngân sách do doanh nghiệp cố tình tăng chi phí làm giảm lợi nhuận); nhà đầu tư trong và ngoài nước (bảo vệ vốn theo Luật Đầu tư nước ngoài); tổ chức tín dụng (đánh giá khả năng trả nợ); nhà cung cấp (quyết định bán chịu); người lao động và ban quản trị doanh nghiệp.
  • Tổng thuật các nghiên cứu trong nước: Phân tích bài viết của ThS. Đào Nam Giang (2015) trên Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng số 157 về các thước đo chất lượng lợi nhuận (gồm 3 nhóm: đặc tính kế toán của Francis et al.; phản ứng thị trường của Dechow et al., 2010; và nhóm đánh giá qua các dấu hiệu sai sót bên ngoài như BCTC bị điều chỉnh, thanh tra hoặc nhận ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn bộ). Tác giả lựa chọn hướng tiếp cận theo nhóm thứ ba. Bên cạnh đó, chương tổng thuật nghiên cứu ứng dụng ERP của Nguyễn Bích Liên (2012), vấn đề công bố thông tin tự nguyện của Đặng Thị Thúy Hằng (2011), và thống kê thực trạng điều chỉnh BCTC của Minh An (2015) cùng Thông tư số 202/2015/TT-BTC về điều kiện hủy niêm yết.
  • Tổng thuật nghiên cứu quốc tế: Phân loại theo 3 nhánh chính gồm gian lận BCTC (David B. Farber, 2004 với mẫu 87 công ty COSO: giao dịch giả chiếm 60%, ghi nhận doanh thu - chi phí sai thời kỳ chiếm 36%; Nadia Smaili và Réal Labelle, 2009); công bố lại BCTC (Huang Zhizhong và Zhang Juan, 2011; Sandeep Nabar và cộng sự, 2007); và điều chỉnh kiểm toán (Oriol Amat và Oscar Elvira, 2010 trên sàn IBEX 35 Tây Ban Nha; Clive Lennox, Xi Wu và Tianyu Zhang, 2015 khảo sát 10.114 công ty tại Trung Quốc giai đoạn 2006–2011 với tỷ lệ điều chỉnh 70,69%, trong đó điều chỉnh giảm chiếm 47,97% và tăng chiếm 22,72%; Lin Seow, Chu Yeong Lim và Themin Suwardy, 2014 khảo sát 257 công ty niêm yết tại Singapore với quy mô 288,3 tỷ SGD).

Trên cơ sở kế thừa mô hình của Lin Seow và cộng sự (2014), tác giả xác lập hai giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1 (H1): Điều chỉnh kiểm toán củng cố đặc tính trung thực, hợp lý của các chỉ tiêu có giá trị trọng yếu trên BCTC tại chính năm tài chính đó.
  • Giả thuyết 2 (H2): Điều chỉnh kiểm toán khắc phục những sai sót, tồn tại trong BCTC trong những năm tài chính sau trong tương lai.

Chương II: Khảo sát các công ty niêm yết tại Việt Nam có thông tin kế toán công bố chịu tác động điều chỉnh của kiểm toán

Chương II trình bày kết quả phân loại mẫu và tổng hợp thực trạng biến động BCTC của các CTNY:

  • Quy mô và cơ cấu mẫu: Khảo sát sơ bộ 150 doanh nghiệp, lựa chọn mẫu phân tích gồm 95 CTNY tiêu biểu trên HOSE và HNX có phát sinh điều chỉnh kiểm toán trọng yếu, đại diện cho 6 nhóm ngành kinh doanh lớn (chiếm trên 70% tổng vốn hóa thị trường). Do tính sẵn có của dữ liệu, số lượng công ty thu thập đủ chỉ tiêu qua các năm lần lượt là: 89 công ty (năm 2014), 92 công ty (năm 2015) và 94 công ty (năm 2016).
  • Cơ cấu số lượng doanh nghiệp theo nhóm ngành:
    • Nhóm ngành sản xuất: 20 công ty (chiếm 21% tổng mẫu).
    • Nhóm ngành tài chính: 18 công ty (chiếm 19% tổng mẫu).
    • Nhóm ngành xây dựng: 18 công ty (chiếm 19% tổng mẫu).
    • Nhóm ngành khác (chủ yếu là vận tải): 15 công ty (chiếm 16% tổng mẫu).
    • Nhóm ngành dịch vụ: 13 công ty (chiếm 14% tổng mẫu).
    • Nhóm ngành công nghiệp: 11 công ty (chiếm 11% tổng mẫu).

Bảng thống kê quy mô tổng tài sản sau kiểm toán của các nhóm ngành khảo sát giai đoạn 2014–2016 (trích xuất từ Bảng 2.1 của khóa luận):

Nhóm ngành Tổng tài sản năm 2014 (triệu đồng) Tỷ trọng năm 2014 (%) Tổng tài sản năm 2015 (triệu đồng) Tỷ trọng năm 2015 (%) Tổng tài sản năm 2016 (triệu đồng) Tỷ trọng năm 2016 (%)
Tài chính 126.525.450 37% 124.383.212 34% 126.272.213 33%
Công nghiệp 84.374.816 25% 88.766.242 25% 88.028.900 23%
Sản xuất 39.031.880 11% 46.653.333 13% 61.886.629 16%
Dịch vụ 25.103.422 7% 24.516.494 7% 25.040.804 7%
Xây dựng 44.203.180 13% 50.136.178 14% 52.718.774 14%
Khác 22.424.382 7% 25.741.209 7% 28.342.821 7%
Tổng mẫu 341.663.130 100% 360.196.668 100% 382.290.141 100%

Số liệu tổng hợp cho thấy tổng tài sản toàn mẫu tăng trưởng liên tục: quy mô năm 2016 đạt hơn 382.290,14 tỷ đồng, tăng 6,13% so với năm 2015 và bằng 111,89% so với năm 2014. Nhóm tài chính luôn chiếm tỷ trọng giá trị tài sản chi phối (trên 30%), trong khi ngành sản xuất là nhóm duy nhất ghi nhận tỷ trọng tài sản gia tăng đều đặn qua các năm (từ 11% lên 13% và đạt 16%). Ngành dịch vụ và ngành khác duy trì tỷ trọng ổn định ở mức 7%.

  • Hệ thống chỉ tiêu khảo sát tác động điều chỉnh kiểm toán: Khóa luận tập trung kiểm tra sự chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán trên 6 chỉ tiêu trọng yếu:
    1. Lợi nhuận sau thuế (LNST): Khảo sát sự tác động của điều chỉnh kiểm toán làm tăng hoặc giảm LNST.
    2. Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ (DTT): Mức độ ảnh hưởng của chênh lệch tăng/giảm DTT đến biến động LNST.
    3. Chi phí thường xuyên phát sinh: Phân tích ảnh hưởng của điều chỉnh chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đến LNST.
    4. Khoản phải thu ngắn hạn (KPT): Mức độ ảnh hưởng của điều chỉnh dự phòng và số dư KPT đến tổng tài sản.
    5. Nợ phải trả (NPT): Đánh giá tác động của việc ghi nhận bổ sung nợ phải trả đến cơ cấu nguồn vốn và tổng tài sản.
    6. Hàng tồn kho (HTK): Tác động của việc điều chỉnh trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

Chương III: Thảo luận về kết quả nghiên cứu và khuyến nghị đề xuất

Từ các dữ liệu thống kê, tác giả tổng hợp đánh giá và đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Thảo luận thực trạng: Số liệu BCTC trước kiểm toán tại các CTNY Việt Nam còn tồn tại nhiều sai lệch trọng yếu. Hoạt động kiểm toán độc lập đã phát hiện, xử lý kịp thời các sai lệch thông qua các bút toán điều chỉnh, góp phần đưa BCTC về trạng thái trung thực, hợp lý. Kết quả chứng minh điều chỉnh kiểm toán đóng vai trò củng cố độ tin cậy của thông tin công bố (chấp nhận giả thuyết H1) và định hướng hoàn thiện công tác kế toán trong các niên độ tài chính tiếp theo (chấp nhận giả thuyết H2).
  • Các nhóm khuyến nghị nâng cao chất lượng thông tin:
    • Đối với công ty kiểm toán độc lập: Nâng cao năng lực chuyên môn và tính độc lập của kiểm toán viên; hoàn thiện quy trình kiểm toán; tăng cường kiểm tra, soát xét kỹ lưỡng các khoản mục thường xuyên phát sinh sai sót như doanh thu, chi phí dự phòng và các giao dịch nội bộ.
    • Đối với công ty niêm yết: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và quy trình kế toán; tăng cường vai trò giám sát độc lập của Ủy ban kiểm toán; nâng cao trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc phê duyệt, lập BCTC trung thực thay vì che giấu thông tin bất lợi.
    • Đối với các nhà đầu tư: Nâng cao hiểu biết tài chính; cẩn trọng phân tích BCTC trước kiểm toán; chú trọng đọc kỹ Báo cáo kiểm toán, các thuyết minh có ý kiến nhấn mạnh hoặc ngoại trừ của kiểm toán viên để phòng ngừa rủi ro.
    • Đối với cơ quan quản lý: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán theo hướng hòa nhập thông lệ quốc tế; tăng cường giám sát nghĩa vụ công bố thông tin; áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi cố tình bóp méo thông tin BCTC trước kiểm toán theo quy định hủy niêm yết của Thông tư 202/2015/TT-BTC.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên việc tổng hợp dữ liệu thực nghiệm và tài liệu pháp lý:

  • Phản ánh trung thực bức tranh chênh lệch BCTC: Minh chứng bằng số liệu thực tế qua mẫu khảo sát 95 CTNY (với dữ liệu chi tiết của 89 công ty năm 2014, 92 công ty năm 2015 và 94 công ty năm 2016), đại diện cho tổng tài sản hơn 382.290,14 tỷ đồng vào năm 2016. Tác giả chứng minh rằng sai lệch BCTC trước kiểm toán diễn ra phổ biến ở các khoản mục trọng yếu như doanh thu thuần, chi phí quản lý, chi phí bán hàng, khoản phải thu và nợ phải trả.
  • Kiểm chứng thực nghiệm các giả thuyết: Khẳng định vai trò thực tế của kiểm toán độc lập tại Việt Nam không chỉ dừng lại ở chức năng xác nhận báo cáo, mà việc đưa ra các điều chỉnh kiểm toán là công cụ then chốt giúp loại bỏ các sai sót trọng yếu, bảo vệ lợi ích các bên liên quan và giảm thiểu tính bất cân xứng thông tin trên thị trường.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Trong khi phần lớn các nghiên cứu trong nước trước đó (như Nguyễn Bích Liên, 2012) chủ yếu tiếp cận chất lượng kế toán qua góc độ quy trình kỹ thuật, hệ thống ERP hoặc nghiên cứu lý luận thuần túy, khóa luận này đã vận dụng hướng nghiên cứu thứ ba theo phân loại của Đào Nam Giang (2015) và Lin Seow và cộng sự (2014), đo lường chất lượng BCTC thông qua bằng chứng định lượng từ các điều chỉnh kiểm toán thực tế tại các CTNY.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thu thập thông tin:

  • Hạn chế về mẫu nghiên cứu: Mặc dù ban đầu xác định khảo sát 95 CTNY, nhưng do một số doanh nghiệp không công bố đầy đủ BCTC qua các năm hoặc thiếu các chỉ tiêu tài chính cần đối chiếu, số lượng mẫu thực tế quan sát qua các năm bị biến động (89 công ty năm 2014, 92 công ty năm 2015 và 94 công ty năm 2016). Mẫu nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các công ty có quy mô lớn, chưa bao quát toàn bộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ niêm yết trên thị trường.
  • Hạn chế về phạm vi thời gian: Khảo sát được thực hiện trong phạm vi 3 năm (2014–2016), phản ánh bối cảnh tài chính của giai đoạn này nên chưa đo lường được tác động của các quy chuẩn kế toán và kiểm toán trong các chu kỳ kinh tế dài hạn hơn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát cho toàn bộ các CTNY trên cả hai sàn HOSE và HNX; kéo dài chuỗi thời gian phân tích; ứng dụng các mô hình hồi quy kinh tế lượng chuyên sâu để lượng hóa chính xác hơn mức độ ảnh hưởng của từng loại điều chỉnh kiểm toán đến giá cổ phiếu và hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Công trình mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn rõ rệt:

  • Đối với sinh viên và học viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống hóa về các đặc tính chất lượng BCTC theo FASB, IASB và VAS 01; minh họa phương pháp thiết kế một nghiên cứu thực chứng khảo sát sai lệch số liệu BCTC trước và sau kiểm toán.
  • Đối với kiểm toán viên và công ty kiểm toán độc lập: Cung cấp bức tranh thực tế về các chỉ tiêu kế toán thường xuyên bị điều chỉnh (LNST, chi phí quản lý, nợ phải thu, nợ phải trả) tại 6 nhóm ngành, hỗ trợ kiểm toán viên nhận diện các vùng rủi ro trọng yếu khi lập kế hoạch kiểm toán.
  • Đối với nhà đầu tư và cơ quan quản lý: Đưa ra căn cứ dữ liệu thực tế giúp nhà đầu tư nâng cao tính thận trọng khi phân tích BCTC tự lập của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý thị trường chứng khoán trong việc hoàn thiện chế tài giám sát chất lượng công bố thông tin.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận lựa chọn mẫu nghiên cứu gồm bao nhiêu công ty và phân bổ theo những nhóm ngành nào?
Tác giả khảo sát sơ bộ 150 doanh nghiệp và chọn mẫu 95 công ty niêm yết có quy mô lớn trên sàn HOSE và HNX thuộc 6 nhóm ngành: Sản xuất (20 công ty, chiếm 21%), Tài chính (18 công ty, 19%), Xây dựng (18 công ty, 19%), Khác/vận tải (15 công ty, 16%), Dịch vụ (13 công ty, 14%) và Công nghiệp (11 công ty, 11%). Do dữ liệu công bố tại một số đơn vị chưa đầy đủ, số công ty quan sát thực tế lần lượt là 89 công ty (năm 2014), 92 công ty (năm 2015) và 94 công ty (năm 2016).

2. Quy mô tổng tài sản của các nhóm ngành trong mẫu nghiên cứu biến động ra sao trong giai đoạn 2014–2016?
Tổng tài sản toàn mẫu tăng trưởng liên tục: từ 341.663.130 triệu đồng (năm 2014) lên 360.196.668 triệu đồng (năm 2015) và đạt 382.290.141 triệu đồng (năm 2016, tăng 6,13% so với 2015). Nhóm tài chính luôn chiếm quy mô tài sản lớn nhất (tỷ trọng từ 33% đến 37%). Nhóm sản xuất là nhóm duy nhất có tỷ trọng tài sản tăng liên tục qua các năm (11% năm 2014, 13% năm 2015, 16% năm 2016). Hai nhóm dịch vụ và nhóm khác duy trì ổn định ở mức 7% mỗi năm.

3. Khóa luận dựa trên những chuẩn mực và khung lý thuyết nào để đánh giá chất lượng BCTC?
Tác giả kết hợp khung khái niệm của FASB (2010), IASB (2010) và sự hội tụ FASB - IASB (xác định 2 đặc tính cơ bản: thích hợp, trình bày trung thực; 4 đặc tính bổ sung: so sánh, kiểm chứng, kịp thời, dễ hiểu; 2 giới hạn: trọng yếu, chi phí); cùng Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC (yêu cầu trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh); kết hợp mô hình ba hoạt động lập - trình bày - công bố BCTC của McFie (2006).

4. Hai giả thuyết nghiên cứu chính được đề tài xây dựng là gì?
Tác giả đề xuất và kiểm chứng hai giả thuyết: Giả thuyết H1 cho rằng điều chỉnh kiểm toán củng cố đặc tính trung thực, hợp lý của các chỉ tiêu có giá trị trọng yếu trên BCTC tại chính năm tài chính đó; Giả thuyết H2 cho rằng điều chỉnh kiểm toán góp phần khắc phục những sai sót, tồn tại trong BCTC trong những năm tài chính sau trong tương lai.

5. Những chỉ tiêu tài chính trọng yếu nào trên BCTC được tác giả chọn để khảo sát tác động điều chỉnh kiểm toán?
Nghiên cứu tập trung phân tích 6 chỉ tiêu cốt lõi: Lợi nhuận sau thuế, Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ, Chi phí thường xuyên phát sinh (chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp), Khoản phải thu ngắn hạn, Nợ phải trả và Hàng tồn kho.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Minh Hồng đã hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết nền tảng về chất lượng thông tin kế toán công bố và vai trò giám sát độc lập của hoạt động kiểm toán. Thông qua việc khảo sát thực nghiệm số liệu BCTC trước và sau kiểm toán giai đoạn 2014–2016 của các công ty niêm yết thuộc 6 nhóm ngành trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đề tài đã chỉ rõ thực trạng sai lệch thông tin và mức độ ảnh hưởng của các điều chỉnh kiểm toán đến các chỉ tiêu tài chính trọng yếu. Kết quả nghiên cứu khẳng định các điều chỉnh kiểm toán là công cụ thiết yếu nhằm củng cố tính trung thực, hợp lý của BCTC, đồng thời cung cấp căn cứ thực tiễn để đề xuất các khuyến nghị hữu ích cho doanh nghiệp kiểm toán, công ty niêm yết, nhà đầu tư và cơ quan quản lý thị trường.