CHƯƠNG I TỔNG QUAN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CÔNG BỐ VÀ CÁC ĐIỀU CHỈNH CỦA KIỂM TOÁN 1. Chất lượng thông tin kế toán và vai trò của kiểm toán 1. Thông tin kế toán 1. Định nghĩa Thông tin là khái niệm đã có từ lâu đời và được hiểu rất rộng.
Tùy thuộc vào các lĩnh vực quan tâm khác nhau mà nó được định nghĩa khác nhau: Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh., hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người (Đoàn Phan Tân, 2001). Trên quan điểm kinh tế học: Thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện trong một hình thức hữu ích với người sử dụng để phục vụ cho việc ra quyết định.
Thông tin có ích với việc ra quyết định vì nó giảm sự không chắc chắn và tăng tri thức về vấn đề được đề cập (Gelinas và Dull, 2008). Thông tin là những tín hiệu được thu nhận, được hiểu và đánh giá là có ích cho việc ra quyết định. Khái niệm thông tin kế toán, cụ thể trong phạm vi đề tài nghiên cứu là thông tin kế toán trên BCTC được nhìn nhận theo hai quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, BCTC (Financial statements) là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả tài chính của DN. BCTC cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của DN, đáp ứng yêu cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao phó cho họ (IASB, 2012).
Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày Khóa luận tốt nghiệp 7 ` Học viện Ngân Hàng thông tin về: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gồm cả lãi và lỗ, khoản góp vốn của chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu, các dòng tiền. Thông thường, một hệ thống BCTC bao gồm: báo cáo cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC. Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù thông tin BCTC truyền thống trình bày trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán, nhưng chỉ mang tính chất quá khứ nên không đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết hiện nay của người sử dụng. Ngày nay, những thay đổi trong môi trường kinh doanh quốc tế theo xu hướng hội nhập, yêu cầu cần xem xét lại về bản chất cũng như nội dung của các BCTC của doanh nghiệp.
Thông tin BCTC không chỉ gắn liền thông tin tài chính, mà nó còn bao gồm những thông tin phi tài chính (Ali shah. Theo Ferdy Van Beest (2013) các nhà nghiên cứu trước đây khi đo lường chất lượng thông tin thường sử dụng định lượng và tập trung vào những khía cạnh cụ thể của thông tin BCTC như: chất lượng lợi nhuận, mô hình giá trị phù hợp…thông tin BCTC được hiểu theo nghĩa rộng hơn, khái niệm đa chiều hơn. Các chiều khác nhau của thông tin BCTC được đánh giá hướng đến sự hữu ích của thông tin, do đó nó phải dựa trên cơ sở thông tin tài chính và phi tài chính cũng như các công bố bắt buộc và tự nguyện như trong BCTC thường niên của DN. Thông tin BCTC đảm bảo chức năng thiết yếu cho thị trường vốn hiệu quả, vì vậy DN ngoài việc cung cấp BCTC truyền thống theo quy định luật pháp cần phải bổ sung những báo cáo mang tính chất tự nguyện về những phân tích đánh giá, các dự báo của nhà quản lý (Healy và Palepu, 2001).
Mục đích thông tin kế toán Mục đích chung của thông tin BCTC là cung cấp thông tin hữu ích của đơn vị được lập báo cáo tài chính cho những nhà đầu tư, những nhà cho vay hiện tại và trong tương lai, và những người chủ nợ khác trong việc ra quyết định hạn mức cho vay với tư cách là một trong những người cung cấp vốn. Theo FASB (2010) và IASB (2010) đặc tính chất lượng là những thuộc tính giúp cho thông tin BCTC hữu ích. Đặc tính chất lượng có thể là những đặc tính cơ bản hoặc cũng có thể Khóa luận tốt nghiệp 8 ` Học viện Ngân Hàng những đặc tính bổ sung tùy thuộc vào sự hữu ích của chúng đối với thông tin BCTC. Bất kể đặc tính thuộc loại nào thì nó đều cung cấp sự hữu ích của thông tin báo cáo tài chính.
Phân loại thông tin kế toán Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về những thông tin kế toán được trình bày trên BCTC ở nhiều góc độ khác nhau. Trong phạm vi đề tài, tác giả dựa trên hai góc độ: với góc độ khả năng đo lường thông tin được chia thành: thông tin tài chính và phi tài chính; và xét dưới góc độ công bố thông tin kế toán trên BCTC thì thông tin BCTC được phân thành hai loại: thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện. Thông tin tài chính và phi tài chính Thông tin tài chính gắn liền với dòng tiền, kết quả và tình hình tài chính (Bảng cân đối kế toán) và sự liên kết giữa chúng với nhau. Thông tin tài chính liên quan trực tiếp với hệ thống định chế tài chính và nó có thể là thông tin quá khứ hoặc tương lai.
Thông tin tài chính được biểu hiện dưới dạng là đơn vị tiền tệ và có thể được đo lường chính xác. Thông tin phi tài chính là những thông tin mang tính chất dự kiến về chương trình quản lý, những cơ hội, rủi ro và tập trung vào những nhân tố nhấn mạnh đến khả năng tạo ra giá trị trong dài hạn và trình bày thông tin giúp cho người sử dụng thông tin có cái nhìn rõ hơn về những thông tin đã trình bày bên cạnh những báo cáo về hoạt động điều hành của nhà quản lý. Thông tin phi tài chính là những thông tin khác ngoài những thông tin tài chính và không liên quan trực tiếp đến các định chế tài chính và tính trung thực của nó ít được đảm bảo. Thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện.
Trong các DN niêm yết, lập và công bố là một trong những công cụ quan trọng mà DN dùng để thông tin đến cổ đông. Công bố thông tin là yếu tố thiết yếu nhằm đảm bảo sự hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực xã hội và giảm tình trạng thông tin bất cân xứng giữa DN và các cổ đông. Nhằm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng, các DN thường cung cấp hai dạng thông tin khác nhau: thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện. Khóa luận tốt nghiệp 9 ` Học viện Ngân Hàng Trong lý thuyết kế toán, công bố được định nghĩa là việc chuyển đưa thông tin báo cáo tài chính tới công chúng.
Công bố là giai đoạn cuối cùng của chu trình kế toán. Nội dung, số lượng và hình thức công bố thông tin tùy thuộc vào những luật pháp, quy định về kế toán của từng quốc gia, từng khu vực.Những thông tin được công bố trong mức giới hạn nhất định được gọi là thông tin bắt buộc.Bất kỳ những nội dung, số lượng thông tin do Ban lãnh đạo DN quyết định ngoài giới hạn này được gọi là thông tin tự nguyện. Thông tin bắt buộc của báo cáo được quy định tùy thuộc vào từng quốc gia và vùng lãnh thổ thông qua các hội nghề nghiệp hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đặc điểm này là phổ biến và được áp dụng trên hầu hết các quốc gia mà không quan tâm đến quy mô của DN, định chế luật pháp, tài chính, hệ thống kế toán.
Thông tin bắt buộc được công bố theo yêu cầu luật pháp của nước sở tại như: luật kinh doanh, luật pháp về kế toán, Ủy ban chứng khoán…Thông tin dạng này được trình bày mang tính chất định kỳ và thường xuyên. Thông tin tự nguyện là kết quả của tình trạng thông tin bất cân xứng giữa hai bên: bên điều hành (ban giám đốc) và bên chủ sở hữu. Thông tin tự nguyện nhằm bổ sung những thiếu hụt của thông tin bắt buộc nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng. Đây là những thông tin tùy thuộc vào sự lựa chọn của DN.
Nó phụ thuộc vào những yếu tố như: văn hóa, xã hội, kinh tế, hành vi ứng xử của từng DN. Không có định nghĩa chung hoặc cơ sở lý thuyết nào cho khái niệm thông tin tự nguyện. Trong nghiên cứu năm 2003 của Naser, K. và Nuseibeh, R, tác giả phân loại thông tin tự nguyện thành hai dạng: thông tin tự nguyện có liên quan đến công bố bắt buộc và thông tin tự nguyện không liên quan đến công bố bắt buộc.
Các BCTC theo dạng truyền thống thường cung cấp những thông tin mang tính chất lịch sử. Với tốc độ phát triển của những ngành nghề khác nhau, chế độ báo cáo tài chính truyền thống chưa đảm bảo phản ánh đầy đủ và thích hợp được mức độ phức tạp của từng DN riêng biệt. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trên BCTC của công ty niêm yết trên TTCK Ngày nay trong xu thế hội nhập, một trong những thách thức đó là các báo Khóa luận tốt nghiệp 10 ` Học viện Ngân Hàng cáo tài chính được yêu cầu phải cung cấp nhiều thông tin hữu ích hơn cho người sử dụng thông tin, đặc biệt là đối tượng bên ngoài DN. Trong các DN niêm yết, đa phần họ là các nhà đầu tư và các nhà phân tích.
Theo Popa Adina và Peres Ion (2008) đối tượng sử dụng thông tin BCTC các DN niêm yết chủ yếu được chia làm hai nhóm: Nhóm 1: đối tượng có kiến thức chuyên môn: môi giới chứng khoán, các nhà phân tích tài chính và các quỹ đầu tư, nhóm này sử dụng thông tin để tư vấn cho nhóm 2. Nhóm 2: người không có kiến thức chuyên môn, nhóm 2 là những người không có kiến thức chuyên ngành và họ cần sự giúp đỡ nhóm 1.