Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề TTKT và chất lượng TTKT của một quốc gia, vùng, địa phương đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, với nhiều cuốn sách, bài báo, luận án và các công trình nghiên cứu khoa học ở cấp quốc gia và quốc tế, trong nước và nước ngoài. Trong đó có thể trình bày các công trình tiêu biểu như sau: 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài Việc nghiên cứu TTKT ngày càng có hệ thống và hoàn thiện hơn.
Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng: TTKT là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng được tính cho toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. TTKT được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Xuất phát từ yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế xã hội, các nghiên cứu về chất lượng TTKT bắt đầu xuất hiện cuối những năm 90, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu về TTKT đã có. Nghiên cứu của Saibal Ghosh (2016) về “Chỉ số chất lượng tăng trưởng: Bằng chứng từ các bang của Ấn Độ”.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng dữ liệu mười năm một cho giai đoạn 1971 - 2011, xây dựng chỉ số chất lượng tăng trưởng cho các bang lớn của Ấn Độ. Chỉ số không chỉ bao gồm sự tăng trưởng và tính bền vững, mà còn bao gồm một số khía cạnh xã hội có liên quan, sử dụng các biến như sự ổn định và đa dạng hóa tăng trưởng cũng như chất lượng thể chế và các chỉ số xã hội như tuổi thọ và tỷ lệ biết chữ. Một số phát hiện nổi bật của tác giả đó là: thứ nhất, giá trị trung bình của các chỉ số cao hơn trong giai đoạn hậu cải cách, cho thấy rằng đã có một sự cải thiện tổng thể về chất lượng tăng trưởng theo thời gian. Tuy nhiên, mặc dù các bang Bimarou có chỉ số chất lượng tăng trưởng tăng, nhưng các bang này vẫn bị tụt lại phía sau so với các bang tương đương; thứ hai, điển hình là các bang công nghiệp hoá là bằng chứng cho thấy chỉ số chất lượng tăng trưởng cao 9 hơn; và thứ ba, các bang công nghiệp hóa, với khả năng tiếp cận tài chính được cải thiện và cơ sở vật chất, hạ tầng được nâng cấp và thay thế tốt hơn, do đó có chỉ số chất lượng tăng trưởng cao hơn.
Nghiên cứu của Xiaojing Chao, Baoping Ren (2018) về “Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc như thế nào?” Mục đích của nghiên cứu này là xây dựng một hệ thống đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của một vùng theo ba cấp độ: điều kiện, quy trình và kết quả; thiết kế, phương pháp, cách tiếp cận từ góc độ chất lượng kinh tế. Tác giả đưa ra một giải thích lý thuyết về chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế như thế nào và thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm trên dữ liệu bảng của 30 tỉnh và các vùng thông qua mô hình GMM (phương pháp moments). Kết quả cho thấy khoảng cách thu nhập quá lớn sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, do đó, hạn chế chất lượng tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, đầu tư vào vốn nhân lực, vốn vật chất, cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, cơ cấu công nghiệp và mở cửa kinh tế đóng vai trò tích cực trong chất lượng tăng trưởng kinh tế, trong khi quy mô chi tiêu của chính phủ, phát triển tài chính và sự sai lệch của cơ cấu công nghiệp có tác động tiêu cực.
Barro (2002) nghiên cứu về “Số lượng và chất lượng của tăng trưởng kinh tế”. Tác giả sử dụng mô hình dữ liệu bảng để phân tích số lượng và chất lượng của tăng trưởng kinh tế cho 84 quốc gia và 7 giai đoạn (mỗi giai đoạn 5 năm, từ năm 1965 đến 2000). Trong nghiên cứu này, các biến số thường được nghiên cứu là tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ lệ đầu tư so với GDP, đồng thời tác giả tập trung vào việc xác định các yếu tố chất lượng của sự phát triển kinh tế như tuổi thọ, khả năng sinh sản, điều kiện môi trường, bất bình đẳng thu nhập và các khía cạnh của thể chế chính trị (như quyền bầu cử, duy trì luật pháp và mức độ tham nhũng), yếu tố tội phạm (tỷ lệ giết người), văn hóa quốc gia, tôn giáo. Kết quả phân tích cho thấy, phát triển kinh tế đi cùng với tuổi thọ cao hơn và giảm khả năng sinh sản; những cải thiện về mức sống cũng gắn liền với việc mở rộng dân chủ, tăng cường duy trì luật pháp và giảm tham nhũng; rất ít sự khác biệt về bất bình đẳng thu nhập được giải thích bởi mức độ phát triển kinh tế; tỷ lệ tội 10 phạm được xác định bởi tỷ lệ giết người, cũng ít liên quan đến mức độ phát triển nhưng có liên quan chặt chẽ hơn với bất bình đẳng thu nhập; và sự phát triển kinh tế bị ảnh hưởng bởi những cấp độ thấp hơn của việc tham gia nhà thờ và tín ngưỡng tôn giáo.
Tuy nhiên, tôn giáo có quan hệ tích cực với giáo dục, nắm giữ những chỉ số cố định của phát triển kinh tế. Nghiên cứu của Montfort Mlachila, René Tapsoba, Sampawende Tapsoba (2014) về “Đề xuất một chỉ số chất lượng tăng trưởng cho các nước đang phát triển”. Nghiên cứu này đề xuất một chỉ số chất lượng tăng trưởng mới cho các nước đang phát triển. Chỉ số này bao gồm cả bản chất nội tại của sự tăng trưởng trong thành phần cơ bản tăng trưởng như sự bền vững, sự ổn định, thành phần ngành, thành phần nhu cầu và các khía cạnh xã hội của tăng trưởng như y tế, giáo dục, và được nghiên cứu tính toán số liệu của hơn 90 quốc gia trong giai đoạn 1990 - 2011.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng tăng trưởng đã được cải thiện ở đại đa số các nước đang phát triển trong hai thập kỷ qua, mặc dù tốc độ hội tụ tương đối chậm. Đồng thời, có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia giữa các mức thu nhập và khu vực; nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố chính của chất lượng tăng trưởng đó là sự ổn định chính trị, chi tiêu công cho người nghèo, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển tài chính, chất lượng thể chế và các yếu tố bên ngoài như FDI. Theo nghiên cứu của Hong Y. (1994), nghiên cứu về “Chất lượng tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng của dân số”.
Tác giả cho rằng, mục tiêu của phát triển kinh tế phải là cải thiện chất lượng TTKT và không chỉ là thành tựu của tốc độ TTKT cao. Cải thiện chất lượng TTKT cần phải thúc đẩy tiến bộ công nghệ, cải thiện quản lý, tối ưu hóa cơ cấu công nghiệp và nâng cao các kỹ năng và nâng cấp các thiết bị của công nhân. Các nước xã hội chủ nghĩa cần nhận thức được sự tương tác giữa phát triển kinh tế, xã hội và vai trò của kiểm soát dân số. Chất lượng TTKT có thể được đánh giá theo các giải pháp kinh tế sau đây: (i) tốc độ tăng trưởng và mức tăng năng suất; (ii) tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và thời gian liên quan đến việc đạt được mức tăng trưởng mong muốn; (iii) tốc độ và cơ cấu tăng trưởng kinh tế; (iv) trình độ học vấn và tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người; (v) tỷ lệ đầu vào và đầu ra của các quỹ; (vi) mức sống; và (vii) mức 11 độ đồng đều trong phân phối.
Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra một số loại mô hình tăng trưởng (Loại A ở các nước phát triển và Loại B ở các nước mới công nghiệp hóa). Ở các nước loại A, chất lượng tăng trưởng đạt được thông qua tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trong thời gian ngắn, tăng trưởng sản xuất liên tục, phát triển kinh tế nhanh và tập trung dân số để tạo việc làm năng suất cao hơn. Ở các nước loại B, chất lượng tăng trưởng đạt được bằng sự tăng trưởng nhanh của GNP trên đầu người và tăng trưởng dân số nhanh, TTKT được tạo ra bởi số lượng lớn người lao động có kỹ năng và tốc độ TTKT cao hơn tốc độ tăng dân số. Thay đổi dân số tác động tiêu cực đến TTKT khi có sự tăng trưởng nhanh mà không cải thiện xã hội và tăng trưởng dân số chậm và phát triển xã hội chậm (Loại Y).
Tác giả đưa ra các khuyến nghị là cải thiện chất lượng dân số đồng thời với kiểm soát dân số, kiểm soát dân số kết hợp với tiến bộ công nghệ và tăng năng suất, tích hợp chính sách kế hoạch hóa gia đình trong chính sách phát triển để tạo môi trường thúc đẩy chất lượng TTKT và kiểm soát dân số. Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài nghiên cứu liên quan đến TTKT và chất lượng TTKT thông qua việc xác định các nhân tố quyết định năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), có thể tổng quan tình hình nghiên cứu như sau: Theo P. Romer (1990), tác giả nghiên cứu về “Sự thay đổi công nghệ nội sinh”. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả giải thích tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng đến tăng trưởng TFP của cả vốn và lao động, do đó có tác động đến TTKT; theo Chen và Dahlman (2004) nghiên cứu về “Sự hiểu biết và phát triển: một mạng lưới các thể chế ở các quốc gia thuộc OECD” cho rằng, các quy tắc và thủ tục ảnh hưởng đến cách mà một quốc gia có được, tạo ra, phổ biến và sử dụng kiến thức.
Vai trò chính của một hệ thống đổi mới là thúc đẩy hoạt động R&D dẫn đến các sản phẩm, quy trình, kiến thức mới, góp phần tăng trưởng TFP, do đó làm tăng trưởng kinh tế; theo Furman và Hayes (2004) nghiên cứu về vấn đề “Đổi mới để bắt kịp hay đứng yên? Năng suất sáng tạo quốc gia trong số các nước theo sau”, tác giả cho rằng: (i) khoảng cách giữa các nước sáng tạo và sáng tạo nhất đã thu hẹp lại, (ii) tập hợp các nước tạo ra những đổi mới đã tăng lên về quy mô.