ĐẶT VẤN ĐỀ Nhu cầu chăm sóc sức khỏe là nhu cầu cơ bản, giúp bản thân ngƣời bệnh tồn tại và vƣợt qua khỏi bệnh tật. Hiện nay, nhiều bệnh viện triển khai thêm những dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu đó của con ngƣời. Một trong những dịch vụ trong thời gian gần đây đang có xu hƣớng phát triển không chỉ mang lại hiệu quả về mặt kinh tế mà còn giúp ngƣời bệnh cải thiện về tình trạng sức khỏe, đó là dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà là dịch vụ y tế gia đình, nhằm mục đích điều trị bệnh, chăm sóc vết thƣơng, chăm sóc y tế hoặc tâm lý cho ngƣời bệnh.
Việc chăm sóc tại nhà có thể giúp ngƣời bệnh tiết kiệm thời gian, chi phí, giảm xảy ra tình trạng quá tải cho các bệnh viện. Đặc biệt trong tình hình dịch bệnh COVID-19 phức tạp vừa qua, việc bác sĩ đến tận nơi để thăm khám, chăm sóc sức khỏe của ngƣời bệnh đƣợc xem là một lựa chọn phù hợp và tối ƣu nhất. Chất lƣợng dịch vụ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm tăng sự hài lòng của ngƣời bệnh và là thƣớc đo cho sự tăng trƣởng của bệnh viện (1). Hiện nay, dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà trở nên phổ biến và đƣợc nhiều ngƣời lựa chọn sử dụng.
Do vậy, việc đánh giá chất lƣợng dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà giúp cho bệnh viện phát hiện những vấn đề còn tồn đọng, phát huy những mặt tích cực. Qua đó có những hoạt động cải tiến phù hợp, nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ, mang đến sự thỏa mãn cho khách hàng. Tại Việt Nam, nhu cầu chăm sóc sức khỏe đang ngày càng phổ biến và trên nhiều đối tƣợng khác nhau. Một nghiên cứu tại Huế cho thấy có tới 89,2% ngƣời cao tuổi sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà trong các năm gần đây (2).
Một nghiên cứu trên đối tƣợng ngƣời bệnh sau xuất viện tại Khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Trung Ƣơng cho thấy có 66,5% ngƣời bệnh có nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà (3). Theo Công văn số 4770/SYT-NVY ngày 20/08/2020 của Sở Y tế về việc giải pháp tăng cƣờng bảo vệ ngƣời bệnh thuộc nhóm nguy cơ cao, trong đó có nêu rõ giải pháp tổ 2 chức khám chữa bệnh tại nhà đối với ngƣời lớn tuổi và mắc bệnh mạn tính trong tình hình dịch COVID-19 căng thẳng (4). Bệnh viện Thành phố Thủ Đức là bệnh viện hạng I với quy mô 800 giƣờng kế hoạch. Mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận khoảng 4500 – 5500 lƣợt đến khám và chữa bệnh, khoảng 150 trƣờng hợp cấp cứu (5).
Nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động khám chữa bệnh, đảm bảo ngƣời bệnh đƣợc chăm sóc toàn diện, đơn vị chăm sóc tại nhà của bệnh viện đã đƣợc thành lập theo Quyết định số 363/QĐ-BV ngày 03 tháng 4 năm 2018 với chức năng gồm khám và điều trị tại nhà; thực hiện kỹ thuật chăm sóc tại nhà; chăm sóc thể chất cho ngƣời bệnh. Trung bình mỗi ngày, có từ 10-15 lƣợt ngƣời bệnh đăng ký sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà. Trong quý IV/2021, có hơn 2100 lƣợt ngƣời bệnh sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà. Trong đó có tới gần 1200 lƣợt ngƣời bệnh sử dụng dịch vụ khám bệnh.
Bệnh viện Thành phố Thủ Đức nằm ở cửa ngõ phía Đông – Bắc của thành phố trong hệ thống chăm sóc sức khỏe cụm y tế (Hóc Môn, Bình Chánh, quận 7, Thành phố Thủ Đức), không những thực hiện khám chữa bệnh trên địa bàn Thành phố Thủ Đức mà còn các tỉnh lân cận, giảm tải cho nhiều bệnh viện tuyến trên. Dịch vụ KCB tại nhà là một loại dịch vụ y tế mang lại nhiều lợi ích nhƣ ngƣời bệnh đƣợc thăm khám và điều trị tại nhà, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, thủ tục đơn giản,… và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho ngƣời bệnh. Nhằm đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu của ngƣời bệnh về chất lƣợng dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà thông qua các khía cạnh: Khía cạnh hữu hình, khía cạnh sự tin cậy, khía cạnh đáp ứng, khía cạnh đảm bảo, khía cạnh cảm thông và sự hài lòng. Qua đó, góp phần cải thiện, tăng chất lƣợng dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà cũng nhƣ tăng sự hài lòng của ngƣời bệnh khi sử dụng dịch vụ.
Chính vì thế, nghiên cứu “Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà của Bệnh viện Thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022 và một số yếu tố ảnh hưởng” đƣợc thực hiện. 3 Mục tiêu nghiên cứu 1. Mô tả chất lƣợng dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà của Bệnh viện Thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà của Bệnh viện Thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 1. Định nghĩa Chăm sóc sức khỏe tại nhà là một dịch vụ chăm sóc sức khỏe liên tục và toàn diện do nhân viên y tế cung cấp cho ngƣời bệnh tại nhà của họ nhằm mục đích giúp bản thân ngƣời bệnh cải thiện chức năng và sống độc lập hơn, tránh tình trạng nhập viện (6). Tại Hoa Kỳ, có hơn 8090 cơ quan chăm sóc sức khỏe tại nhà và cung cấp hơn 2,4 triệu ngƣời già và ngƣời khuyết tật hằng năm (7).
Tại Việt Nam, nhu cầu khám chữa bệnh tại nhà ngày càng gia tăng (8). Bên cạnh đó, Thông tƣ 21/2019/TT-BYT ngày 21 tháng 08 năm 2019 về Hƣớng dẫn thí điểm về hoạt động y học gia đình, trong đó có nội dung chăm sóc, khám bệnh, chữa bệnh tại nhà đối với ngƣời bệnh với các danh mục chuyên môn kỹ thuật đƣợc đính kèm trong Phụ lục (9). Dịch vụ khám chữa bệnh tại nhà đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho ngƣời bệnh. Đây là một loại hình dịch vụ y tế mang nhiều lợi ích nhƣ: ngƣời bệnh đƣợc thăm khám và điều trị tại nhà, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, thủ tục đơn giản, không cần phải cung cấp bất cứ loại giấy tờ nào, không hạn chế thời gian khám bệnh trong khi các cơ sở y tế chỉ làm việc trong giờ hành chính, …(10).
Lợi ích khi sử dụng dịch vụ - Cải thiện cuộc sống của các thành viên trong gia đình: Bác sĩ gia đình thăm khám bệnh tại nhà sẽ thực hiện kiểm tra sức khỏe đơn giản nhƣ: đo huyết áp, đƣờng huyết, nhịp tim, lƣợng đƣờng trong máu, …để dựa vào đó biết đƣợc căn bản tình trạng sức khỏe hiện tại của ngƣời bệnh. Ngoài ra, tìm hiểu về các bệnh tiền sử của gia đình, các thói quen sinh hoạt hằng ngày, … từ đó đƣa ra lời khuyên giúp các thành viên trong gia đình có đƣợc chế độ sinh hoạt tốt hơn. - Phát hiện sớm những dấu hiệu bất thƣờng của sức khỏe: Một số bệnh lý nguy hiểm của ngƣời bệnh mắc phải nhƣ bệnh đƣờng tiêu hóa, ung thƣ, tim mạch, … không 5 đƣợc phát hiện kịp thời, đợi khi xuất hiện triệu chứng mới đi đến các cơ sở khám chữa bệnh thì sẽ ảnh hƣởng đến việc điều trị hoặc xảy ra những trƣờng hợp xấu không mong muốn. Do vậy, việc bác sĩ thƣờng xuyên thăm khám tại nhà sẽ giúp hạn chế những điều trên.
- Có thể tƣ vấn đƣợc những vấn đề sức khỏe khó nói: Thăm khám tại nhà là sự lựa chọn tốt, hoàn hảo khi có những vấn đề mà ngại đến các cơ sở y tế nhƣ sinh hoạt vợ chồng, dậy thì, … - Giúp tiết kiệm thời gian, chi phí điều trị về sau: Không cần đến bệnh viện nhƣng ngƣời bệnh vẫn đƣợc đội ngũ bác sĩ giỏi, chuyên môn tốt đến khám trực tiếp tại nhà. - Thời gian linh hoạt: Ngƣời bệnh có thể lựa chọn thời gian linh hoạt, không nhất thiết phải là giờ hành chính (11). Khái niệm về chất lƣợng dịch vụ 1. Định nghĩa chất lƣợng dịch vụ Theo Parasuraman và cộng sự (1985), CLDV là khoảng cách giữa sự mong đợi của NB và nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ (12).
Theo Zeithamal (1993), CLDV đƣợc xem là nhận thức của khách hàng và đƣợc đánh giá bởi chính họ. Ngoài ra, CLDV có thể đƣợc định nghĩa là “sự phù hợp với các đặc điểm kỹ thuật của khách hàng” (13). Theo Philip Kotler và cộng sự (2013), CLDV là khả năng của một dịch vụ gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó (14). Do vậy, CLDV là những đặc tính của dịch vụ, đáp ứng kỳ vọng của khách hàng.
Hiện nay, việc đánh giá chất lƣợng dịch vụ đƣợc xem là vấn đề thu hút, nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu. Chất lƣợng dịch vụ khám, chữa bệnh Theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO), CLDV y tế là mức đạt đƣợc các mục tiêu của 6 hệ thống y tế trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe và đáp ứng các mong đợi của khách hàng (15). Ngoài ra, CLDV y tế đƣợc thể hiện qua 6 khía cạnh gồm: hiệu quả, hiệu suất, dễ tiếp cận, chấp nhận đƣợc, công bằng và an toàn (16). - Hiệu quả: Kết quả NB mong đợi mang lại hiệu quả cho các cá nhân NB và cộng đồng.
- Hiệu suất: Việc cung cấp CSSK một cách tối ƣu hóa sử dụng tài nguyên sẵn có và tránh việc sử dụng lãng phí. - Dễ tiếp cận: việc cung cấp CSSK một cách kịp thời, hợp lý và cung cấp trong bối cảnh và kỹ năng phù hợp với nguồn lực y tế. - Chấp nhận đƣợc/ngƣời bệnh làm trung tâm: cung cấp CSSK bao gồm các sở thích và nguyện vọng của khách hàng và các nền văn hóa cộng đồng. - Công bằng: việc cung cấp CSSK mà không thay đổi chất lƣợng bởi các đặc tính cá nhân nhƣ giới tính, chủng tộc, địa lý văn hóa hoặc tình trạng kinh tế xã hội.
- An toàn: việc cung cấp CSSK làm giảm thiểu rủi ro và thiệt hại cho ngƣời sử dụng dịch vụ. Theo quan điểm Racoveanu và Johansen, CLDV khám chữa bệnh là các dịch vụ đáp ứng các yêu cầu về kiến thức và nguồn lực hiện tại, đáp ứng kỳ vọng tối đa hóa về lợi ích và tối thiểu hóa về nguy cơ đối với các yếu tố gây hại cho sức khỏe (17).