phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công; Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công của quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công của quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG 1. Tổng quan về dịch vụ công và dịch vụ hành chính công 1. Dịch vụ công Khái niệm “dịch vụ công” (Public service) được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này.
Theo từ điển Le Petit Larousse (1992): "Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm"[34]. Định nghĩa này đưa ra cách hiểu chung về dịch vụ công, song ở đây không có sự phân biệt giữa Nhà nước và tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công, do đó không làm rõ được tính chất "công" của dịch vụ này. Dịch vụ công có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, dịch vụ công được hiểu là toàn bộ các hoạt động do nhà nước đảm bảo để phục vụ cho các quyền và nhu cầu hợp pháp của công dân và tổ chức trong xã hội.
Khi hiểu như vậy, dịch vụ công bao gồm tất cả các hoạt động quản lý nhà nước như ban hành pháp luật, sử dụng pháp luật điều tiết các hoạt động của cá nhân và tổ chức trong xã hội để duy trì trật tự xã hội theo định hướng của nhà nước và bảo đảm sự phát triển cho xã hội. Tuy nhiên, cách hiểu này không phổ biến. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công là những hàng hoá và dịch vụ nhà nước có trách nhiệm cung ứng nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, phục vụ và thúc đẩy sự phát triển xã hội. Khi hiểu như vậy, dịch vụ công thường được đồng nhất với khái niệm “dịch vụ công cộng”.
Ở Việt Nam khái niệm dịch vụ công được hiểu theo nghĩa hẹp hơn so với quốc tế, tức là dịch vụ công không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, an ninh, quốc phòng, ngoại giao. Xét về phạm 8 vi thì khái niệm dịch vụ công theo nghĩa rộng mà quốc tế thường dùng bao gồm hầu như toàn bộ khu vực hành chính - sự nghiệp. Còn khái niệm dịch vụ công theo nghĩa hẹp mà Việt Nam đang dùng thì có phạm vi gần trùng với khu vực sự nghiệp công cộng với những dịch vụ hành chính công. Từ những tính chất trên đây, dịch vụ công có thể được hiểu là “những hoạt động dịch vụ của các cơ quan nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước uỷ quyền thực hiện theo các quy định của pháp luật, phục vụ những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội” [19].
Dịch vụ hành chính công 1. Khái niệm dịch vụ hành chính công Căn cứ vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, dịch vụ công chia thành các loại như sau: - Dịch vụ hành chính công Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do các cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cung ứng cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý. Mỗi loại dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc. Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân, tổ chức.
Cho đến nay, đối tượng duy nhất cung ứng dịch vụ hành chính công là các cơ quan nhà nước hay các cơ quan do nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng loại dịch vụ này. Đây là một phần trong chức năng quản lý của các cơ quan nhà nước. Để thực hiện chức năng này, các cơ quan nhà nước tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp người dân như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch, … Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu ngang giá trên thị trường mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước. Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước.
9 - Dịch vụ công cộng Đây là nhóm dịch vụ công bảo đảm các điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của cộng đồng và xã hội. Các dịch vụ công cộng được chia thành dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích. + Dịch vụ sự nghiệp công: Là việc cung ứng các dịch vụ phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân, như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội, … Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là nhà nước chỉ cung ứng những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm hoặc không muốn làm nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại dịch vụ công này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội. + Dịch vụ công ích: Là việc cung ứng các hàng hoá, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng, như cung cấp điện, nước, vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, vận tải công cộng, phòng chống thiên tai.
Các loại dịch vụ này chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện. Cung ứng một số loại dịch vụ công ích, như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyên rác thải hoặc cung ứng nước sạch ở các đô thị, vùng nông thôn do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm. Phân loại dịch vụ công Nguồn:Giáo trình Dịch vụ công 10 Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP của Chính phủ (Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước), “dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý.” Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân. Phân loại dịch vụ hành chính công Theo mục đích sử dụng sản phẩm dịch vụ, chia thành 2 nhóm lớn: các DVHCC phục vụ và đáp ứng nhu cầu dân sinh và các DVHCC phục vụ và đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế.
Theo chủ thể cung cứng DVHCC: DVHCC do các cơ quan hành chính nhà nước cung cấp (trong đó có DVHCC do CQHCNN ở trung ương cung cấp; DVHCC do các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cấp tỉnh/ thành phố, cấp quận/huyện, cấp xã/phường cung cấp); DVHCC do tư nhân cung ứng dưới sự kiểm soát của Nhà nước; DVHCC do tư nhân và nhà nước cùng phối hợp thực hiện. Theo đối tượng khách hàng sử dụng/tiêu dùng DVHCC: cá nhân/ công dân, hộ gia đình, doanh nghiệp, đơn vị kinh tế, tổ chức chính trị - xã hôi, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Theo tiếp cận Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI), hiệu quả cung ứng dịch vụ hành chính công được đo lường thông qua các chỉ số về chất lượng dịch vụ hành chính công ở những lĩnh vực cần thiết nhất cho đời sống của người dân, bao gồm dịch vụ chứng thực, xác nhận của chính quyền cơ sở; dịch vụ cấp giấy phép xây dựng; dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSD đất), và dịch vụ hành chính công cấp xã/phường. Các chỉ tiêu đánh giá tập trung vào các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người dân với những dịch vụ hành chính công này.
Các loại hình dịch vụ hành chính công Các hoạt động cấp các loại giấy phép Giấy phép là một loại giấy tờ do các cơ quan hành chính nhà nước cấp cho các tổ chức và công dân để thừa nhận về mặt pháp lý quyền của các chủ thể này được tiến hành một hoạt động nào đó phù hợp với các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này. Theo quy định của Nhà nước, để được phép tiến hành một hoạt động nào đó trong phạm vi quản lý của Nhà nước, chủ thể phải có đầy đủ những căn cứ xác nhận chủ thể có dủ khả năng và điều kiện cần thiết dể tiến hành hoạt động đó theo quy định pháp luật. Hoạt động cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực Các loại hoạt động này bao gồm: công chứng, cấp chứng minh thư, cấp giấy khai sinh, khai tử, cấp giấy đăng ký kết hôn, cấp bằng lái xe, đăng ký xe,. Các loại giấy tờ này được cấp trên nguyên tắc: Đây là bằng chứng pháp lý xác nhận tính hợp pháp của sự việc hoặc hành vi được ghi trên giấy tờ.
Chứng nhận chủ nhân của giấy tờ này có quyền sử dụng giấy tờ như một bằng chứng pháp lý để thực hiện các giao dịch hoặc hoạt động có liên quan. Việc các cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy xác nhận, chứng nhận nói trên là nhằm tạo điều kiện cho công dân sử dụng các bằng chứng này để thực hiện các hoạt dộng và giao dịch có liên quan. Điều đó tạo điều kiện cho việc quản lý nhà nước ỏ các khâu sau được thuận lợi Hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các qu của Nhà nước Các hoạt động này gắn với nghĩa vụ mà Nhà nước yêu cầu các chủ thể trong xã hội phải thực hiện. Việc Nhà nước tổ chức thu thuế và các khoản đóng góp nói trên là một loại dịch vụ hành chính công mà bất kỳ Nhà nước nào cũng phải thực hiện.
Theo quy định của pháp luật, việc thu thuế được phân cấp cho các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương đối với các loại thuế khác nhau.