Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về mày đay 1.1 Khái niệm 4 Mày đay là một dạng phản ứng dị ứng của mao mạch trên da với các dị nguyên nội sinh hoặc ngoại sinh khác nhau gây nên phù cấp hoặc mạn tính ở trung bì. Thương tổn da điển hình là các sẩn phù có dát đỏ bao quanh, rất ngứa. Các sẩn này có thể tồn tại từ 30 phút đến 36 giờ.
Kích thước này có thể từ vài milimet (mm) đến hàng chục centimet (cm) [7]. Nguyên nhân Yếu tố chủ thể là cơ địa dị ứng mang tính gia đình (chiếm 40-60% người bệnh) đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu từ lâu [14]. Yếu tố môi trường có liên quan mật thiết với sự phát sinh bệnh dị ứng, bao gồm rất nhiều loại dị nguyên như bụi nhà, thay đổi thời tiết (73,5%), thức ăn (5,8%), lông súc vật (6,1%), thuốc (2,7%), hóa mỹ phẩm (13,6%), côn trùng đốt (30,4%), hoặc không rõ nguyên nhân (14,1%) [6]. Một số yếu tố nguy cơ thường gặp của mày đay như: hoá chất, các loại bụi, thức ăn, lông, phân hoá, yếu tố vật lý, yếu tố di truyền, tự phát… 1.
Phân loại mày đay Theo cơ chế bệnh sinh - Mày đay do dị ứng: là mày đay xảy ra theo cơ chế dị ứng, có nhiều dị nguyên gây ra như thực phẩm, mỹ phẩm, bụi nhà, lông vũ, hóa chất… - Mày đay không do dị ứng: là mày đay xảy ra không theo cơ chế dị ứng thường do các kích thích vật lý (nóng, lạnh, đè ép…) hoặc các yếu tố không đặc hiệu như căng thẳng, thay đổi cảm xúc, do rượu, gắng sức [6]. Theo thời gian mắc bệnh - Mày đay cấp tính: thời gian mắc bệnh dưới 6 tuần, tổn thương xuất hiện từng đợt, có thể kéo dài tới nhiều giờ rồi mất đi không để lại dấu vết [9]. 5 - Mày đay mạn tính: thời gian mắc bệnh trên 6 tuần, tổn thương xuất hiện hàng ngày hoặc gần như ngày nào cũng có, triệu chứng xuất hiện và mất đi trong vòng 24 giờ, tái phát trong nhiều tháng, nhiều năm [50]. Mày đay mạn tính 1.
Dịch tễ Mày đay nói chung và mày đay mạn nói riêng phổ biến trong cộng đồng, xu hướng ngày càng tăng. Mày đay mạn tính chiếm khoảng 30% tổng người bệnh mày đay. Ước tính, tỉ lệ mắc mày đay mạn tính khoảng 1% dân số. Bệnh có thể kéo dài nhiều năm và có tới 40% người bệnh kéo dài đến 10 năm sau đó.
Mày đay mạn tính thường gặp ở người trưởng thành, trong đó phụ nữ gấp khoảng 2 lần nam giới [49]. Tỷ lệ mày đay khác nhau giữa các nước, ở Việt Nam theo Nguyễn Năng An, tỉ lệ mày đay cộng đồng là 11,68%, trong đó 80 - 90% là mày đay mạn [2]. Chẩn đoán mày đay mạn tính [9] [4]. Chẩn đoán xác định: Chủ yếu dựa vào các đặc điểm lâm sàng sau: - Ngứa: là dấu hiệu đầu tiên, thường xảy ra ở nơi sắp sửa xuất hiện tổn thương, mức độ tùy theo từng người bệnh.
- Thương tổn cơ bản: là các dát đỏ, sẩn phù (nổi cao trên mặt da), màu hồng tươi hay đỏ, kích thước to, nhỏ khác nhau, đa hình thái, hình tròn hoặc bờ không đều, ranh giới rõ với vùng da lành. - Diễn biến: xuất hiện nhanh, biến mất hoàn toàn trong vòng một đến vài giờ, tối đa không quá 24 giờ. - Kéo dài trên 6 tuần, thậm chí hàng tháng, hàng năm. Chẩn đoán nguyên nhân 6 Để xác định nguyên nhân mày đay thì việc khai thác tiền sử dị ứng của người bệnh và gia đình là cần thiết.
Đặc biệt, việc tìm hiểu hoàn cảnh, điều kiện xuất hiện mày đay lần đầu, sự liên quan tới thức ăn, thời tiết, yếu tố tiếp xúc… rất quan trọng. Tuy nhiên, việc tìm nguyên nhân gây bệnh thường khó khăn dù đã có nhiều kỹ thuật mới hỗ trợ cho chẩn đoán. - Khai thác tiền sử dị ứng: giúp định hướng được những yếu tố có khả năng là nguyên nhân gây bệnh như thức ăn, hóa chất… từ đó tiến hành một số phương pháp chẩn đoán đặc hiệu. - Thực hiện một số thử nghiệm tìm nguyên nhân: + Thử nghiệm lẩy da (prick test) với dị nguyên nghi ngờ (mạt bụi nhà, phấn hoa, thức ăn, ….
+ Thử nghiệm áp da (patch test) với dị nguyên nghi ngờ. + Thử nghiệm huyết thanh da tự thân. + Định lượng kháng nguyên đặc hiệu loại IgE theo công nghệ MAST CLA 1 (còn gọi là thử nghiệm 36 dị nguyên). Chẩn đoán phân biệt - Chứng da vẽ nổi (dermographic urticaria): Vùng da bị cọ xát với một vật tù nào đó sẽ xuất hiện những vết lằn màu hồng cao hơn so với mặt da 1- 4 mm, sau đó chuyển sang màu trắng, tồn tại khoảng 30 phút tới vài giờ rồi mất đi, không ngứa.
- Viêm mạch mày đay (urticaria vasculitis): Sẩn phù kéo dài hơn 24 giờ, thường mềm, ngứa ít. Kém đáp ứng với kháng histamin. Mô bệnh học: phù nề lớp nội mô của mao mạch, có sự thâm nhiễm tế bào đơn nhân, đa nhân và sự thoát mạch của hồng cầu. Tổng quan về chất lượng cuộc sống 7 1.
Khái niệm chất lượng cuộc sống Có nhiều định nghĩa khác nhau về CLCS, tuy nhiên trong nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận về CLCS theo Tổ chức Y thế Giới (WHO). Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: CLCS là nhận thức của mỗi cá nhân về các khía cạnh của cuộc sống phù hợp với văn hóa và các giá trị mà ở nơi mà họ sinh sống, có liên quan đến những mục đích, kỳ vọng, chuẩn mực, những mối quan tâm của họ. Đây được là một khái niệm rộng và phức tạp bị ảnh hưởng bới các yếu tố như sức khỏe thể chất, tâm lý, niềm tin [65]. Mặc dù, có nhiều quan điểm khác nhau để định nghĩa về chất lượng cuộc sống, nhưng sử dụng định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới là một mô tả tốt nhất về chất lượng cuộc sống trong y học, được phần lớn các nhà khoa học sức khỏe hay xã hội học áp dụng.
Việc áp dụng định nghĩa này thường được áp dụng để đo lường và đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh, ít nhất ba chiều trong định nghĩa đã được sử dụng để mô tả và đo lường chất lượng cuộc sống của người bệnh gồm: chức năng thể chất, trạng thái tinh thần và khả năng tham gia vào các tương xã hội thông thường [61]. Ảnh hưởng của mày đay mạn tính đến chất lượng cuộc sống Mày đay mạn tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh do các triệu chứng suy nhược và khó chịu có thể kéo dài trong nhiều năm [20]. Ngoài các triệu chứng như ngứa và sẩn, các yếu tố khác có liên quan nhiều hơn đến người bệnh mày đay mạn tính, chẳng hạn như không thể đoán trước các đợt bùng phát, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, tác dụng phụ liên quan đến thuốc và ngoại hình [21]. Mày đay cấp tính có tác động hạn chế đến cuộc sống của người bệnh, còn gánh nặng của mày đay mạn tính đối với người bệnh, gia đình và bạn bè của họ, hệ thống chăm sóc sức khỏe và xã hội là rất 8 lớn.
Mày đay ảnh hưởng rõ rệt đến giấc ngủ và các hoạt động hàng ngày. Hơn 20% người bệnh cho biết họ nghỉ làm ≥ 1 giờ mỗi tuần và suy giảm năng suất là 27%. Những tác động này tăng lên khi hoạt động của bệnh ngày càng tăng. Hơn nữa, người bệnh lo ngại về những tác động gây tàn phế và sự kỳ thị liên quan đến sự xuất hiện của phù mạch hoặc mày đay và điều này làm tăng gánh nặng của bệnh [32].
Mày đay mạn tính với những triệu chứng ngứa, sẩn và phù có thể xuất hiện toàn thân hoặc hiện diện ngay trên khuôn mặt khiến người bệnh nhất là nữ buồn phiền, mất tự tin và ngại xuất hiện chốn đông người. Theo nhiều nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ bị ảnh hưởng CLCS nhiều hơn bởi mày đay mạn tính và các bệnh tự miễn dịch khác, những người mắc mày đay mạn tính mức độ nặng thì ảnh hưởng nhiều hơn đến chất lượng cuộc sống [55]. Tuy mày đay mạn tính không ảnh hưởng quá nghiêm trọng đến tình trạng sức khoẻ của người bệnh nhưng nó gây ra vô số phiền toái mà người bệnh gặp phải: - Ảnh hưởng tới hình ảnh bên ngoài: Mày đay mạn tính thường xuất hiện các nốt sẩn đỏ, ngứa, phát ban trên da có thể gây ảnh hưởng đến ngoại hình của người bệnh [54]. Người bệnh nữ cho biết bệnh ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn quần áo hay mỹ phẩm [12].
- Ảnh hưởng đến đời sống xã hội: Mày đay mạn tính là cho người bệnh có tâm lý lo lắng, kém tập trung từ đó ảnh hưởng đến công việc và học tập [12]. Mày đay khó điều trị : Ngoài việc ảnh hưởng đến hình ảnh bên ngoài và đời sống xã hội của người bệnh, mày đay mạn tính còn là một bệnh khó điều trị. Nhiều tác giả đã chỉ ra những người bệnh mày đay phải đối mặt với căng thẳng trong cuộc sống và công việc của họ được thể hiện trong tâm lý khác nhau như các vấn đề như lo lắng và căng thẳng dẫn đến sự suy giảm của chất 9 lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và đôi khi không tuân thủ điều trị [13, 46]. Tại sao phải đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh mày đay mạn tính Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh rất cần thiết, không chỉ phản ánh tác động của bệnh đến cuộc sống của người bệnh mà còn giúp đánh giá hiệu quả của một can thiệp một cách rõ ràng.
Vì vậy, đánh giá chất lượng cuộc sống cần được coi là đánh giá đầu ra quan trọng trong các thử nghiệm đối với việc điều trị và chăm sóc của người bệnh [32]. Hầu hết các nghiên cứu đều áp định nghĩa về chất lượng cuộc sống của WHO vào đo lường đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh, rằng chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe nói chung được coi là cấu trúc nhiều chiều bao gồm sức khỏe thể lực, sức khỏe tâm trí, chức năng xã hội và toàn trạng nói chung [65]. Một lý do nữa cần thiết phải đo lường CLCS là việc quan sát thực tế cho thấy hai người bệnh cùng mức độ bệnh tật như nhau nhưng lại có những phản ứng khác nhau. Ví dụ, hai người bệnh cùng có một bệnh lý như nhau nhưng một người vẫn tiếp tục công việc của họ một cách thoải mái còn người khác thì có thể bỏ công việc và có thể bị trầm cảm vì bệnh tật của mình.