Chương 1 CHẤT LƯỢNG CÁC BAN TỔ CHỨC HUYỆN ỦY Ở TỈNH AN GIANG - NHỮNG VẤN ĐỀ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. CÁC ĐẢNG BỘ HUYỆN VÀ BAN TỔ CHỨC HUYỆN UỶ Ở TỈNH AN GIANG 1. Các đảng bộ huyện và huyện ủy ở tỉnh An Giang 1. Cỏc đảng bộ huyện ở tỉnh An Giang * Khỏi quỏt tỡnh hỡnh, đặc điểm ở tỉnh An Giang An Giang là một tỉnh nằm ở biờn giới Tõy Nam của Tổ quốc, với diện tớch tự nhiờn là 3.424 km2, bằng 1,03% diện tích cả nước.
Phía Đông - Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, Đông - Nam giáp thành phố Cần Thơ, Tây - Nam giáp tỉnh Kiên Giang, Tây - Bắc giáp với hai tỉnh Tà Keo và Candal của Vương quốc Campuchia với đường biên giới trải dài 96 km, có hai cửa khẩu quốc tế là Tịnh Biên và Vĩnh Xương. Điều kiện khí hậu thuận lợi cùng với hệ thống sông, ngũi phong phỳ đa dạng, đất đai phỡ nhiêu nên thế mạnh của An Giang là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. Giao thông thủy, bộ trong những năm gần đây được tập trung nâng cấp, mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xó hội. Dưới sự lónh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh nền kinh tế cú sự phỏt triển khỏ toàn diện.
- Tăng trưởng GDP bỡnh quõn hằng năm đạt 9,1%, vượt kế hoạch 0,6%, trong đó khu vực thương mại - dịch vụ tăng 11,5%, khu công nghiệp - xây dựng 12,2%, khu vực nông nghiệp 5,2%. Thu nhập bỡnh quõn đầu người năm 2005 đạt 8,53 triệu đồng (tương đương 521 USD), tăng 0,83 lần so năm 2000. - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Đến năm 2005, giá trị thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng 50,3%, công nghiệp - xây dựng chiếm 12,1%, nông nghiệp cũn 37,6%.
7 - Thành tựu nổi bật về kinh tế, trước hết là tổ chức thực hiện thành công chương trỡnh xỳc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường; triển khai có hiệu quả chương trỡnh khuyến cụng; phỏt triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp phát triển theo chiều sâu. Cây lúa, con cá nước ngọt trở thành mặt hàng chủ lực của tỉnh, có giá trị và sản lượng đứng đầu cả nước; nhiều mô hỡnh sản xuất hiệu quả được nhân rộng; xó hội húa cụng tỏc nhõn giống; khai thỏc lợi thế mựa nước nổi; việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp ngày càng mạnh mẽ; giá trị trên đơn vị diện tích tăng liên tục, trỡnh độ sản xuất của nông dân ngày càng tiến bộ. Cơ sở hạ tầng ở nông thôn được đầu tư nâng cấp, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới, tiến bộ.
- So với năm 2000, tuy khó khăn về huy động nguồn vốn đầu tư bên ngoài, nhưng nhờ phát huy tốt nội lực, đặc biệt là đóng góp tốt của nhân dân nên tổng vốn đầu tư xó hội tăng 2,45 lần; kinh tế phát triển nên thu ngân sách Nhà nước tăng 1,61 lần, trong đó nguồn thu từ kinh tế ngoài quốc doanh tăng mạnh; xuất khẩu tăng 2,8 lần; tỷ lệ hộ nghèo giảm bỡnh quõn 1% năm. - Kết cấu hạ tầng kinh tế - xó hội từng bước hoàn chỉnh, hệ thống đô thị và chợ được xây dựng, nâng cấp mở rộng. Hệ thống kênh mương, đê bao chống và thoát lũ ngày càng phát huy hiệu quả tốt, hạn chế những thiệt hại và khai thác có hiệu quả lợi thế mùa nước nổi. - Các thành phần kinh tế phát triển mạnh, nhất là kinh tế tư nhân.
Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, kiện toàn theo chủ trương đổi mới, các công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả. Kinh tế hợp tác được củng cố. Kinh tế trang trại phát triển, nhất là trên lĩnh vực chăn nuôi. - Chất lượng giáo dục, năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cú sự chuyển biến tớch cực.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị thường xuyên được bổ sung. Phổ cấp giáo dục tiểu học đúng độ tiểu đạt kết quả khá. Qua 5 năm hoạt động, Trường Đại học An Giang đó đào tạo trên 6. Các trường trung học chuyên nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy 8 nghề tiếp tục được đầu tư, mở rộng qui mô, từng bước nâng cao hiệu quả đào tạo, nhiều trung tâm học tập cộng đồng được thành lập ở cấp xó.
- Hoạt động khoa học công nghệ được đổi mới theo hướng tập trung cho nghiên cứu ứng dụng. Một số đề tài về phát triển các cây giống, con giống đạt hiệu quả. Xuất hiện nhiều điển hỡnh, sỏng kiến hay. Cú chớnh sỏch hỗ trợ, khuyến khớch cỏc tổ chức, cỏ nhõn đăng ký xuất xứ nhón hiệu hàng húa và kiểu dỏng cụng nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập.
- Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, xuất khẩu lao động có bước tiến đáng kể. Năm 2005, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 18,8% (năm 2000 là 10,3%), tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm cũn 4%, tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn đạt mức 80%, xuất khẩu lao động đạt trên 1.500 người, tỉ lệ hộ nghèo cũn 3% (chuẩn nghốo mới là 12,15%); cỏc tệ nạn xó hội phần lớn được kềm chế, ngăn chặn. - Cụng tỏc phũng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ bà mẹ trẻ em đạt kết quả tốt. Y học cổ truyền phỏt triển.
Xó hội húa lĩnh vực y tế được mở rộng. - Lĩnh vực văn hóa, văn nghệ ngày càng đi vào chiều sâu. Hoạt động báo, đài có nhiều tiến bộ. Phong trào thể dục - thể thao phát triển mạnh, ý thức rốn luyện sức khỏe được đề cao.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đạt nhiều kết quả, giúp củng cố mối quan hệ cộng đồng, phát huy dân chủ góp phần cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng khởi sắc. Tuy nhiờn bờn cạnh những thuận lợi trờn An Giang vẫn cũn khụng ớt khú khăn, thách thức: Kinh tế tăng trưởng khá nhưng về cơ bản vẫn là một tính thuần nông, cơ cấu kinh tế chuyển dịch cũn chậm; tỉ lệ học sinh bỏ học trong những năm gần đây tăng đáng lo ngại, lĩnh vực y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe người dân cũn lạc hậu; đời sống văn húa tinh thần của nhõn dõn cũn đơn điệu…Thực tế đó đang đặt ra cho cấp ủy và chính quyền 9 tỉnh An Giang những vấn đề cần phải quan tâm giải quyết trước mắt cũng như lâu dài. Tỉnh An Giang được chia thành 11 thành phố, thị xó và cỏc huyện bao gồm: thành phố Long Xuyờn là trung tõm hành chớnh của tỉnh, thị xó Chõu Đốc và các huyện: - Huyện An Phỳ: phớa Tõy và Bắc giỏp tỉnh Tà Keo Vương quốc Campuchia, phía Đông giáp huyện Tân Châu, phía Nam giáp ngó 3 sụng Hậu (thị xó Chõu Đốc). An Phú có 12 xó và 1 thị trấn, diện tớch 208,02 km 2 dân số171.
Tại An Phú người Kinh chiếm đa số, bên cạnh đó cũn cú cộng đồng người Chăm (ước tính đầu năm 2008 khoảng 6.500 người trong tổng số 12.000 người toàn tỉnh). Dân cư ở đây chủ yếu là nông dân, hầu hết diện tích đất đều trồng lỳa, ngoài ra cũn nuụi trồng thủy sản nước ngọt. Hàng năm cả huyện đều chịu ảnh hưởng của mùa nước nổi (từ tháng 6 đến tháng 12 hàng năm). - Huyện Chõu Phỳ: có vị trí nằm ở trung tâm địa giới hành chính của tỉnh, cách TP.
Long Xuyên 20 km về phía Nam và cỏch thị xó Chõu Đốc 20 km về phía Bắc. Huyện có 12 xó và 1 thị trấn, diện tớch 425,87 km 2 dân số 239.067 người, người dân nơi đây sống chủ yếu bằng nông nghiệp trồng lúa, cây màu và nuôi trồng thủy sản nước ngọt. - Huyện Chõu Thành: Tiếp giỏp TP. Long Xuyên phía Đông - Nam.
Huyện có 12 xó và 1 thị trấn, diện tớch 346,82 km2 dân số 163.666 người, cộng đồng dân cư chủ yếu là người Kinh, ngoài ra cũn cú cỏc dõn tộc Khơme, Chăm và người Hoa sống chủ yếu bằng buôn bán nhỏ, nông nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản vào mùa nước nổi. - Huyện Chợ Mới: Là vùng đất cù lao năm giữa sông Hậu và sông Tiền là cái nôi cách mạng của tỉnh An Giang (nơi chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên ra đời) phía tây giáp thành phố Long Xuyên, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp. Huyện cú 12 xó và 2 thị trấn, diện tớch 355,71 km 2 dân số 355.798 do đây là vùng đất có đường đê bao chống lũ khép kín nên người dân sống chủ yếu là 10 sản xuất lúa 3 vụ xen kẻ trồng hoa màu ở đây cũng hỡnh thành làng nghề từ lõu đời như chạm khắc đồ gỗ, đóng tàu thuyền… - Huyện Phỳ Tõn: Cũng là huyện cù lao năm giữa sông Tiền và sông Hậu, phần đất liền phía đông- nam giáp huyện Chợ Mới, phía bắc giáp huyện biên giới Tân Châu, đây là vùng đất tôn giáo (nơi khởi sinh đạo Hũa Hảo). Huyện cú 17 xó và 2 thị trấn, diện tớch 307,07 km 2 dân số 234.229 người, người Kinh chiếm đa số (98%) cũn lại là người Chăm, Hoa.
Cũng như các huyện khác trong tỉnh người dân ở đây chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy sản. - Huyện Tõn Chõu: Là huyện biờn giới giỏp Campuchia là điểm đầu nguồn của Sông Tiền (một trong 2 nhánh của sông Mê Công) chảy vào nước ta. Huyện có 9 xó và 2 thị trấn, diện tớch 161,10 km 2 dân số 153. Người dân nơi dây chủ yếu sống bằng nông nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, buôn bán tiểu ngạch qua biên giới, nơi đây có một làng nghề tạo ra sản phẩm nội tiếng đó là lụa Tân Châu.
- Huyện Thoại Sơn: Tiếp giỏp thành phố Long Xuyên về phía Đông, phía Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Tây giáp huyện Tri Tôn, phía Bắc giáp huyện Châu Thành. Huyện cú 14 xó và 3 thị trấn, diện tớch 337,44 km 2 dân số 180.633 người, người Kinh chiếm đa số, phần nhỏ cũn lại là người Khơme, đây cũng là nơi có khu di tích lịch sử Óc eo. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch. - Huyện Tịnh Biờn: Đây là huyện biên giới và vùng núi của tỉnh An Giang.
Phía Đông giáp thị xó Chõu Đốc, phía Tây Bắc giáp tỉnh Tà Keo (vương quốc Campuchia), phía Nam giáp huyện Tri Tôn. Huyện có 12 xó, 2 thị trấn, diện tớch 337,44 km2 dõn số 109. Người Khơme chiếm tỷ lệ tương đối cao. Người dân sinh sống chủ yếu bằng ruộng, rẫy, trồng cây ăn trái và buôn bán tiểu ngạch qua biên giới.