Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm trí thức trẻ Việt Nam 1.1 Khái niệm trí thức trẻ Trí thức là một khái niệm không còn xa lạ với bất kì ai. Trong cuộc sống chúng ta thường bắt gặp những từ, những cụm từ như: Xã hội trí thức hay người lao động trí thức. Thật ra chúng ta biết rằng ngay từ khi “tầng lớp trí thức” (intelligentsia) lần đầu tiên xuất hiện ở đất nước Nga - xứ sở bạch dương vào nửa đầu thế kỷ XIX, và ngay sau đó là từ “người trí thức” (intellectuel) xuất hiện ở Pháp ngay sau sự kiện Công xã Paris (1871), đã hàm chứa một ý nghĩa, một nội dung khá rõ ràng: họ là những người không những có học vấn cao hay trình độ chuyên môn giỏi, mà hơn hết họ phải là những người quan tâm, có hiểu biết và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc, của xã hội. Cũng cùng quan điểm và cũng theo tinh thần cách mạng đó thì Karl Marx đã coi trí thức là những người có đầy đủ tri thức để, giải quyết, quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội nên họ phải là những người: “phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”.
Chúng ta cần hiểu rằng ở đây Karl Marx chỉ đi sâu nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của người trí thức. “Những gì đang hiện hữu” ở xung quanh ta là những bất cập, là những vấn đề đáng quan tâm của các chính sách xã hội hiện hành, chứ không thể là những chính sách hợp lý, tiến bộ. Vậy ai là người nhìn ra vấn đề đó? Người trí thức, họ có năng lực phê phán, có tầm nhìn xa trông rộng nên thường hay tỏ ra bất bình trước sự trì trệ và bất hợp lý một cách công khai và thẳng thắn. Như vậy trí thức theo nghĩa này được hiểu là người có năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực, có tri thức, có quan điểm, thái độ trước các vấn đề của xã hội.
Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh niên, 2009, thì trí thức có nghĩa là “Người chuyên lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của bản thân) [10, tr454]. Đây là một định nghĩa tương đối ngắn gọn nhưng đã khái quát được nội dung bao hàm của từ trí thức. Trước hết “trí” có nghĩa là khả năng nhận thức, ghi nhớ, suy nghĩ, phán đoán… của con người, “thức” cũng có nghĩa là biết. Vậy “trí thức” chính là một khái niệm chỉ tới những con người lao động bằng trí óc, có hiểu biết sâu và rộng về một hoặc một số lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, khoa học - công nghệ, quản lý kinh tế - xã hội, thường xuyên biết vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết những vấn đề lý luận, thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động của mình vì lợi ích chung của cộng đồng cùng với nhu cầu nhận thức của bản thân và xã hội.
Ở diễn đàn Tia sáng - ấn phẩm báo Khoa học và Phát triển [35] trong bài viết Trí thức và một vài đặc điểm của trí thức tác giả bàn luận và phân tích rất rõ về khái niệm trí thức. Tác giả cho rằng trí thức không nhất thiết phải dựa vào dấu hiệu bằng cấp cao. Bằng cấp đôi khi không phải là thước đo trí tuệ. Trên thực tế có rất nhiều người bởi có tư chất thông minh, lại ham học hỏi, nên có vốn tri thức sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định.
Tác giả bài viết đã chứng minh ý kiến này của mình bằng việc đưa ra những tấm gương sáng trong lịch sử nhân loại từng ghi tên tuổi của mình vào trí nhớ mọi người mặc dù họ chưa học hết bậc Đại học nhưng đã có những đóng góp xuất sắc cho văn hóa - nghệ thuật, khoa học - công nghệ hay cho lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội. Nói đến đây không thể không kể đến Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ - các nhà sáng chế, quản lý doanh nghiệp tài ba, nổi tiếng thế giới hay nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở Anh Quốc - họ đâu phải là những người bằng cấp cao nhưng họ có tư chất thông minh, dám nghĩ, dám làm. Đó là thế giới, còn ở Việt Nam, chúng ta tự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hào về nhà văn Nguyên Hồng - một nhà văn xuất thân nghèo khó, cả cuộc đời cơ cực, tuy nhiên ông đã hoàn thành những sáng tạo nghệ thuật để đời như Những ngày thơ ấu, Bỉ vỏ, khi chỉ mới học xong bậc tiểu học. Không chỉ ở lĩnh vực văn học mà trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hiện nay, đang xuất hiện ngày càng nhiều "kỹ sư chân đất" - những nông dân "chân lấm tay bùn" chịu học và dám nghĩ, dám làm, biết chế tạo từ máy cày, máy cấy, máy thu hoạch mía, máy rửa bát, máy bắt chuột cho đến máy bay v., họ đã dần dần từng bước đáp ứng nhu cầu của công cuộc lao động sản xuất và ước muốn chinh phục những đỉnh cao của khoa học - công nghệ.
Họ là những trí thức thật sự. Như vậy theo tác giả bài viết thì người trí thức không nhất thiết phải là những con người có bằng cấp cao, mà là người có tư duy tốt, ham học hỏi, hiểu biết, tích lũy vốn kiến thức rộng và thành công trong cuộc sống. Ngược lại, người có bằng cấp cao nhưng có thể do chuyển ngành sang lao động chân tay thì cũng không thể xếp vào tầng lớp trí thức. Bên cạnh đó, cũng có quan niệm cho rằng người trí thức là người lao động trí óc.
Tuy nhiên một vấn đề nữa đặt ra đó là nếu quan niệm như vậy thì người họa sĩ, bác sĩ phẫu thuật, nhà điêu khắc…. không phải người trí thức? Cách hiểu này cũng chưa thật thỏa đáng. Vậy nên bổ sung: Người trí thức là người thực hiện các công việc có tầm quan trọng và công việc đó đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn, sự huy động nỗ lực trí óc nhiều hơn. Người trí thức thường xuyên lao động bằng trí óc thay vì lao động chân tay, thường xuyên sáng tạo những sản phẩm trí tuệ, xem đó như là sứ mạng, là lẽ sống của mình.
Nghĩa là họ dùng trí tuệ của mình để cống hiến và tạo ra thu nhập. Họ coi công việc của họ là lẽ sống, những hiểu biết của họ, những sáng tạo của họ có ý nghĩa quan trọng không chỉ với bản thân họ mà còn đối với sự phồn thịnh của cả đát nước. “Nói tóm lại, trí thức là những người lao động trí óc, có hiểu biết sâu rộng về một hoặc một số lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, quản lý kinh tế - xã hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vực hoạt động của mình vì lợi ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của bản thân. Theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là một tập hợp mở và đa dạng, không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, công nhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ” [35].
Trí thức có thể là bất kỳ ai trong các thành phần trên, họ có thể là một người nông dân nhưng hiểu biết, họ có thể là người công nhân nhưng có kiến thức sâu rộng…, miễn là có hiểu biết và tham gia lao động trí óc. Tuy nhiên, mỗi ngành nghề đều có lực lượng nòng cốt riêng của nó, bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học; các bác sĩ, dược sĩ cao cấp; các nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo; các nhà quản lý và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho nhà quản lý. Từ khái niệm về trí thức nêu trên chúng ta có thể suy ra khái niệm “trí thức trẻ”. Thực ra chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về khái niệm “trí thức trẻ”.
Chúng ta vẫn ngầm hiểu trí thức trẻ là những người trẻ tuổi có học thức, được đào tạo trên ghế nhà trường, có chuyên môn sâu, có hiểu biết về tự nhiên và xã hội theo một hệ thống. Trí thức trẻ là một bộ phận quan trọng góp phần to lớn vào sự nghiệp giữ nước, xây dựng và phát triển đất nước. Dù ở trong xã hội nào, thời đại nào thì đây luôn là bộ phận đi đầu, tiên phong cho nước nhà. Trong thời chiến, khi đất nước đang ở trong khói đạn của quân thù thì trí thức trẻ với tầm nhìn sâu rộng và lòng yêu quê hương, đất nước đã xung phong vào trận chiến, hi sinh tuổi thanh xuân và cả tính mạng của mình để bảo vệ Tổ Quốc.
Họ âm thầm ngã xuống và có những người đã trở thành anh hùng vô danh. Thoát khỏi cơn giông tố kinh hoàng do kẻ thù gây ra, khi đất nước bước vào thời kì xây dựng đất nước, khắc phục hậu quả sau chiến tranh thì lực lượng trí thức trẻ lại nắm vai trò quan trọng. Chính họ đã không ngừng học hỏi, đưa ra những sáng kiến, những phát minh khoa học giúp nước nhà phát triển kinh tế, vươn lên thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu sau chiến tranh. Và trong thời kì Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ngày hôm nay thế hệ trí thức trẻ vẫn không Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngừng tìm kiếm, học hỏi, phát minh.
Như vậy, trí thức trẻ là một trong số những bộ phận cấu thành xã hội Việt Nam. Họ đã và đang được quan tâm và trở thành sự kì vọng của nhân dân, của Đất nước.2 Trí thức trẻ Việt Nam trong thời kì chống Mỹ Lật lại từng trang sử, dân tộc Việt Nam đã trải qua ba thời kì khác nhau, có thăng trầm, có máu và nước mắt, có nụ cười chiến thắng.