Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng nó cung cấp một lượng lớn thịt, mỡ cho con người, phế phụ phẩm cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. Trên thực tế ngành chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn như quy mô nhỏ lẻ, khâu chọn giống còn nhiều bất cập,. Ngoài ra, nhiều loại dịch bệnh diễn biến phức tạp cùng với sự ảnh hưởng trầm trọng của ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi đã làm cho cả ngành chăn nuôi lợn lao đao. Để chăn nuôi lợn phát triển ổn định, có chiều sâu, chăn nuôi trang trại tập trung được xem là con đường tất yếu để phát triển bền vững, chỉ có như vậy mới có đủ điều kiện đáp ứng các yêu cầu về an toàn dịch bệnh, an toàn cho môi trường và đảm bảo sản phẩm là nguồn thực phẩm an toàn cho con người.
Muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao thì chúng ta cần đẩy mạnh các biện pháp kỹ thuật như giống, thức ăn, biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng. Đặc biệt chú trọng tới công tác giống, giống tốt thì vật nuôi mới tăng trọng nhanh, khả năng tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao. Bởi vậy cần phát triển chăn nuôi các giống lợn ngoại có năng suất và chất lượng thịt cao. Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm.
Tuy nhiên một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh ở cơ quan sinh dục: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, mất sữa… Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn nước uống không đảo Luan van 2 bảo vệ sinh, do vi khuẩn, vi rút gây nên. Chính vì vậy mà việc chăm sóc nuôi dưỡng và tìm hiểu về bệnh của cơ quan sinh dục của đàn lợn nái là việc rất cần thiết. Để góp phần giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và góp phần vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh cho lợn nái tốt hơn, em tiến hành thực hiện chuyên đề:: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn Công ty TNHH Ngôi Sao Hy Vọng thị trấn Ba Hàng, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục đích - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại công ty Ngôi sao Hy vọng. - Xác định được tỷ lệ mắc một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái - Xác định được các phương pháp phòng bệnh hiệu quả nhất. - Xác định được các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái. - Xác định được các phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn tại trại.
Yêu cầu của chuyên đề - Ðánh giá quy trình phòng bệnh tại công ty Ngôi sao Hy vọng. - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản. - Xác định phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh hiệu quả nhất. - Nắm bắt được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái tại trại.
Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại 2. Vị trí địa lý Công ty TNHH Ngôi Sao Hy Vọng nằm ở tổ dân phố Đầu Cầu, phường Ba Hàng, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Phường Ba Hàng nằm trên quốc lộ 3, cách 26 km về phía nam thành phố Thái Nguyên và cách 56 km về phía bắc thủ đô Hà Nội, có vị trí địa lý: Phía Đông giáp với huyện Phú Bình. Phía Tây giáp với Thành phố Thái Nguyên. Phía Bắc giáp với Thành phố Sông Công. Phường Ba Hàng có diện tích 4,45 km2, dân số năm 2014 là 10.139 người, mật độ dân số đạt 2.278 người/km2.
Ngoài quốc lộ 3, phường Ba Hàng cũng nằm gần các tỉnh lộ và huyện lộ nối thị xã với huyện Phú Bình. Phường Ba Hàng trước đây vốn là thị trấn Ba Hàng, thị trấn huyện lỵ của huyện Phổ Yên, được thành lập vào ngày 9 tháng 9 năm 1972. Ngày 15 tháng 5 năm 2015, Ủy ban Thường vụ quốc hội thông qua nghị quyết về việc thành lập thị xã Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên. Theo đó, thành lập phường Ba Hàng thuộc thị xã Phổ Yên trên cơ sở toàn bộ 183,15 ha và 7.661 người của thị trấn Ba Hàng; 261,38 ha và 2.478 người của xã Đồng Tiến.
Phường Ba Hàng có 444,53 ha diện tích tự nhiên và 10. Với diện tích đất rộng là địa điểm thuận lợi để giao lưu buôn bán với các xã, huyện bên cạnh. Điều kiện khí hậu Khí hậu là một yếu tố rất quan trọng quyết định đến sự phát triển trong ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng. Luan van 4 Nhiệt độ không khí của khu vực có nét đặc trưng như sau: cực đại trung bình năm đạt 20,5oC, cực tiểu đạt 3,2oC.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nét đặc trưng nóng ẩm mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài và lạnh về mùa đông. Nhiệt độ trung bình 23 - 240C, lượng mưa trung bình mỗi năm 1. Nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm. Cơ cấu tổ chức tại trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: - 01 quản lý.
- 01 kỹ thuật trại. - 02 sinh viên thực tập. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được phân công và dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của kỹ thuật trại. Cơ sở vật chất tại trại Trại có tổng diện tích là 2,5 ha.
Trại nằm trong khuôn viên của Công ty khi đi vào trại phải qua 2 phòng thay đồ và thay ủng. Trước cửa mỗi phòng đều có máy phun sát trùng tự động và phải đi qua 3 hố vôi. - Đất trồng cây ăn quả. - Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải.
- Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Kho để đồ phế liệu. Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào. Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn Luan van 5 đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn.
Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 200 nái, 1 khu nái chửa (4 dãy có 150 ô, 3 dãy nái nuôi con, 4 ô lợn đực), 1 chuồng cách ly cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh,. Trại gồm 4 khu chính: khu nhà ăn, ở cho công nhân; khu nhà để cám và kho thuốc; khu để dụng cụ chăn nuôi; khu chăn nuôi còn lại là vườn bao quanh trại. Trại có quy mô đàn là 40 đầu nái, 1 lợn đực. Được phân ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại lợn khác nhau, trang trại được xây dựng với 3 khu chuồng nối liền nhau.
Khu chuồng nái chửa là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai, khu chuồng đẻ là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng nái chửa chuyển xuống là nơi mà lợn nái thực hiện quá trình đẻ, khu còn lại là khu vực chuồng dành cho lợn hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải. Khu chuồng nái chửa gồm 4 dãy dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần khu vực lấy tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng bầu nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra lên giống. Một góc chuồng nái chửa là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh, cạnh khu lấy tinh có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh. Phòng tinh được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện.
Đầu chuồng nái chửa có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 6 quạt hoạt động Luan van 6 nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong chuồng còn được trang bị đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất. Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng. Mỗi một ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con. Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng gỗ.
Mỗi lồng úm được trang bị một đến 2 bóng úm. Trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn. Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun sát trùng sau đó rắc vôi để trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên. Khu chuồng cách ly để nuôi những con lợn nghi mắc bệnh.
Khu cách ly được xây dựng cách xa khu chăn nuôi. Khu chuồng cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm 6 ô lớn được trang bị khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động bên trong các ô, khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng có 3 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi.Trước cửa khu cách ly được thiết kế xây 1 hố vôi sát trùng. Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước và vòi nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày.