BỘ LAO ĐỘNG TB VÀ XÃ HỘI TRƢỜNG CAO ĐẲNG PHẠM NGỌC THẠCH CẦN THƠ Tài liệu tham khảo CHĂM SÓC SỨC KHỎE PHỤ NỮ, BÀ MẸ VÀ GIA ĐÌNH (Dành cho đào tạo Điều Dưỡng trung học) Lưu hành nội bộ Năm 2021 MỤC LỤC Trang Bài 1. Hiện tượng thụ tinh, làm tổ và phát triển của trứng đã thụ tinh …. Thay đổi giải phẫu sinh lý khi có thai ………. Các dấu hiệu của chuyển dạ, theo dõi chăm sóc chuyển dạ ……….
Chăm sóc trẻ sơ sinh ngay sau đẻ ……………………………………. Thai nhi đủ tháng ………………………………………………………. Suy thai và hồi sức sơ sing ngay sau đẻ ………………………………. Công tác điều dưỡng trong nhiễm trùng hậu sản …………….
Chủa ngoài tử cung …………………………….Rau bong non…………………………………. Nôn nặng, tăng huyết áp, tiền sản giật và sản giật do thai nghén ………. Truyền thông và tư vấn cho phụ nữ có thai …………………….… 97 Tài liệu tham khảo …………………………………………………………………. 109 Bài 1 HIỆN TƢỢNG THỤ TINH, LÀM TỔ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG ĐÃ THỤ TINH MỤC TIÊU: 1.
Trình bày đƣợc định nghĩa, mô tả đƣợc hiện tƣợng thụ tinh, làm tổ và phát triển của trứng đã thụ tinh. Áp dụng đƣợc kiến thức về các hiện tƣợng trên để giải thích các nguyên tắc của biện pháp tránh thai và điều trị vô sinh. HIỆN TƢỢNG THỤ TINH l. Định nghĩa: Là sự kết hợp giữa tinh trùng và noãn bào thành 1 tế bào duy nhất là trứng.
Sự sinh tinh: Tinh trùng đƣợc sinh ra từ tinh hoàn, khi giao hợp tinh trùng đƣợc trộn với tinh tƣơng tạo thành tinh dịch phóng vào trong âm đạo. Mỗi tinh trùng trƣởng thành gồm có 3 phần: Đầu: hình bầu dục, phần trƣớc có nguyên sinh chất, phần sau là một nhân to chứa nhiễm sắc thể. Thân: ở giữa có dây trục nằm giữa các dây xoắn ốc. Đuôi: dài, ở giữa có dây trục.
Có thể gặp những tinh trùng dị dạng trong tinh dịch bình thƣờng: tinh trùng 2 đầu, tinh trùng không đầu. Tiêu chuẩn chất lƣợng tinh trùng cho một lần giao hợp để có khả năng thụ tinh: Thể tích: một lần phóng tinh từ 2 - 5 ml tinh dịch. Số lƣợng tinh trùng bình thƣờng trong một ml tinh dịch có trên 60 triệu con. Tỷ lệ tinh trùng hoạt động trên 70%.
Bình thƣờng tinh trùng có khả năng sống trong môi trƣờng âm đạo khoảng 2- 3 ngày. Tốc độ di chuyển mỗi phút từ 1. Sự sinh noãn: Trong giai đoạn chuẩn bị tại noãn nang, noãn bào tƣơng lai đƣợc chiêu mộ vào một đoàn hệ noãn. Qua quá trình phát triển từ đoàn hệ này, sẽ chọn ra đƣợc một noãn vƣợt trội.
Chỉ có noãn vƣợt trội mới tham gia vào quá trình phóng noãn và thụ tinh. 1 Sau khi đƣợc phóng thích, noãn bào đƣợc bao bọc chung quanh bởi một chất nhầy, bị hút về phía vòi trứng và dễ dàng bị cầm giữ bởi các tua vòi. Khi đến loa vòi, noãn sẽ vƣợt qua và di chuyển tƣơng đối nhanh trong vòi trứng. Động lực của sự di chuyển này là nhu động của các cơ trơn của vòi trứng.
Vài giờ sau, noãn đã có mặt gần nơi tiếp giáp giữa đoạn bóng và eo của vòi trứng, nơi sự thụ tinh sẽ xảy ra. Noãn bào chỉ có thể giữ đƣợc khả năng thụ tinh trong khoảng 6 - 2 4 giờ. Quá thời hạn này, noãn bào không còn khả năng thụ tinh đƣợc nữa. Mô tả hiện tƣợng: Ngay sau khi đƣợc phóng vào trong âm đạo, tinh dịch đông đặc lại trong cùng đồ và cầm tù các tinh trùng.
Khoảng một giờ sau, các enzym ly giải protein có trong tinh dịch đƣợc hoạt hóa bởi pH axít của âm đạo, sẽ hoạt hóa khối đông này và phỏng thích các tinh trùng đang bị giam giữ. Các tinh trùng di động nhất sẽ vƣợt qua rào chắn niêm dịch cổ tử cung, số tinh trùng còn lại sẽ bị hủy diệt trong môi trƣờng pH axít của âm đạo. Những đặc điểm của chất nhầy ở giai đoạn tiền phóng noãn là thích hợp nhất cho sự vƣợt qua kênh cổ tử cung của tinh trùng. Nhƣ vậy vai trò của nút nhầy cổ tử cung là: Sàng lọc các giao tử.
Bƣớc đầu thực hiện quá trình khả năng hóa tinh trùng, bằng cách giải phóng tinh trùng khỏi những ràng buộc với dịch tiết của tinh hoàn và tiền liệt tuyến. Những chất có vai trò ức chế khả năng thụ tinh của tinh trùng. Tiếp theo, nhờ khả năng di động, sự co thắt cơ tử cung và vòi trứng, tinh trùng sẽ đến nơi thụ tinh, thƣờng là ở phần bóng vòi trứng. Lúc này từ khoảng 300 triệu tinh trùng chỉ còn vài trăm, đa số là tinh trùng bình thƣờng, khỏe mạnh.
Các tinh trùng ngay sau khi đƣợc xuất tinh, không có ngay khả năng thụ tinh cho noãn. Chúng cần phải đƣợc khả năng hóa. Khả năng hóa là một loạt hiện tƣợng phức tạp tƣơng ứng với những biến đổi về cấu trúc của màng bào tƣơng tinh trùng. Các tinh trùng vây quanh noãn bào nhƣng chỉ duy nhất 1 tinh trùng xuyên qua đƣợc màng của noãn bào.
Sau đó nhân của 2 tế bào này sẽ kết hợp thành một nhân duy nhất của trứng. Quá trình thụ tinh đến đây xem nhƣ hoàn tất (tổng cộng khoảng 35h). HIỆN TƢỢNG DI CHUYỂN CỦA TRỨNG: 2. Định nghĩa: Là sự di chuyển của trứng từ nơi thụ tinh vào trong buồng tử cung.
Mô tả hiện tƣợng: Sau khi thụ tinh, trứng vừa phân chia tế bào vừa di chuyển vào buồng tử cung nhờ: Hoạt động các nhung mao trong lòng vòi trứng. Hoạt động của lớp cơ vòi trúng. Sự lƣu thông của dịch vòi trứng. Thoạt tiên trứng lƣu lại khoảng 48 giờ trong đoạn bóng của vòi trứng.
Trong thời gian này trứng thực hiện các hoạt động bào phân, để đạt đến giai đoạn từ 2 đến 8 tế bào. Sau đó trứng sẽ nhanh chóng vƣợt qua eo vòi trứng trong vòng 10 đến 12 giờ. Khoảng 3 -+ 4 ngày sau khi thụ tinh trứng đến đƣợc buồng tử cung. HIỆN TƢỢNG LÀM TỎ CỦA TRỨNG ĐÃ THỤ TINH: 3.
Định nghĩa: Là sự xâm nhập hoàn toàn của trứng đã thụ tinh vào nội mạc tử cung, bám rễ tại đó và tiếp tục phát triển. Mô tả hiện tƣợng: Trứng bình thƣờng sẽ đến buồng tử cung vào khoảng 3 đến 4 ngày sau khi thụ tinh. Lúc này nó đang ở giai đoạn 8 đến 16 tế bào. Sau khi vào đến buồng tử cung, trứng còn tự do khoảng 48 giờ nữa trƣớc khi chìm vào bề dầy của nội mạc tử cung.
Trong thời gian này phôi dâu tiếp tục hoạt động phân bào, lớn lên về thể tích, cuối cùng chìm vào nội mạc tử cung khi đã ở giai đoạn phôi nang, với khoảng 50 tế bào. Trong suốt khoảng thời gian này, sự nuôi dƣỡng của phôi đƣợc thực hiện bằng cơ chế thẩm thấu qua màng trong. Nội mạc tử cung cần phải bình thƣờng cả về phƣơng diện mô học cũng nhƣ sinh lý học để bảo đảm cho một sự làm tổ bình thƣờng. Đó là cấu tạo của nội mạc bình thƣờng vào ngày 21 - 22 của chu kỳ kinh nguyệt.
Phôi bắt đầu làm tổ vào ngày 6 -> 8 sau thụ tinh. Tại nơi làm tổ, phôi bám dính vào nội mạc tử cung và chui sâu dần xuống lớp nội mạc. Sự xâm nhập hoàn toàn của trứng vào bên trong lớp nội mạc kéo dài đến ngày 11 -+ 12 sau thụ tinh. Kể từ giờ phút này, phôi thai phát triển lệ thuộc vào cơ thể mẹ: hoàng thể chu kỳ trở thành hoàng thể thai kỳ dƣới tác dụng kích hoạt của bêta-hCG, đảm nhận duy tri thai kỳ cho đến khi nhau thai có thể đảm nhận đƣợc nhiệm vụ chế tiết progesteron.
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG ĐÃ THỤ TINH: 4. Định nghĩa: 3 Là sự nhân lên về số lƣợng, biệt hóa của tế bào trứng (để tạo nên các cơ quan, bộ phận trong cơ thể) trở thành phôi rồi thành thai và các phần phụ của thai. Mô tả hiện tƣợng: Sau khi thụ tinh trứng phân chia rất nhanh để tạo thành thai và phần phụ của thai. Gồm 2 thời kỳ: - Thời kỳ sắp xếp tổ chức, bắt đầu từ lúc thụ tinh đến hết tháng thứ 2.
- Thời kỳ hoàn chỉnh tổ chức, bắt đầu từ tháng thứ 3 đến khi thai đủ tháng. Thời kỳ sắp xếp tổ chức: 4. Sự hành thành bào thai Trong quá trình di chuyển từ nơi thụ tinh đến nơi làm tổ, trứng đã thụ tinh tiếp tục phát triển qua giai đoạn phôi dâu và đến khi làm tổ ở giai đoạn phôi nang. Trong khoảng 2 tuần lễ đầu sau khi thụ tinh, trứng lớn lên dần.
Từ tuần thứ 3 trứng đƣợc gọi là phôi thai. Từ sau tuần thứ 8 phôi thai đƣợc chuyển sang giai đoạn thai nhi. Ở phôi thai mới thành lập ngƣời ta phân biệt 3 vùng: vùng trƣớc là đầu, vùng giữa nhô ra để trở thành bụng, lƣng có rãnh thần kinh, vùng sau là phần đuôi và có mạng lƣới thần kinh. Vùng trƣớc và sau dần dần phình ra để tạo hình chi trên và chi dƣới.
Cuối thời kỳ phôi thai, phần đầu phôi to một cách không cân đối, đã có phác hình của mắt, mũi, miệng, tai ngoài; tứ chi trở nên rõ nét (có chồi ngón), các bộ phận chính nhƣ tuần hoàn, tiêu hóa cũng đƣợc thành lập ở thời kỳ này. Sự phát triển của phần phụ Nội sản mạc: về phía lƣng của bào thai một số tế bào của lá thai ngoài tan đi, tạo thành một buồng gọi là buồng ối, trong chứa nƣớc ối, thành của màng ối là một màng mỏng gọi là nội sản mạc. Trung sản mạc: các tế bào mầm nhỏ phát triển thành trung sản mạc, bao gồm 2 lớp: lớp ngoài là hội bào, lóp trong là các tế bào Langhans. Ngoại sản mạc: trong khi trứng làm tổ niêm mạc tử cung phát triển thành ngoại sản mạc.
Ngƣời ta phân biệt 3 phần: Ngoại sản mạc tử cung: chỉ liên quan đến tử cung. Ngoại sản mạc trứng: chỉ liên quan đến trứng. Ngoại sản mạc tử cung - nhau: là phần ngoại sản mạc nằm giữa lóp cơ tử cung và trứng. Thời kỳ hoàn chỉnh to chức: Sự phát triển của thai: Thời kỳ này phôi thai đƣợc gọi là thai nhi, bắt đầu có đủ các bộ phận và tiếp tục phát triển tới khi hoàn chỉnh tô chức.
Bộ phận sinh dục đƣợc nhận biết rõ rệt vào tháng thứ 4, thai cũng bắt đầu vận động vào cuối tuần thứ 16, cuối tháng thứ 6 da thai nhi còn nhăn, đƣợc bao bọc bởi chất gây, sang tháng thứ 7 da bớt nhăn do nhiều mỡ dƣới da, xuất hiện móng tay và móng chân. Các điểm cốt hóa ở đầu dƣới xƣơng đùi xuất hiện vào tuần thứ 36 và ở đầu trên xƣơng chày vào tuần thứ 38.