Đặt vấn đề Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam. Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho người tiêu dùng và phân bón cho sản xuất nông nghiệp. Ngày nay chăn nuôi lợn có tầm quan trọng đặc biệt, làm tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của trang trại và nông hộ ̣thì viêc ̣ phát triển đàn lợn nái sinh sản là nhu cầu cần thiết.
Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 Châu Á và ở vị trí hàng đầu khu vực đông nam Châu Á. Hiện nay nước ta đang có gần 39,7 triệu đầu lợn cung cấp sản phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần cho xuất khẩu. Theo dự báo của Công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu Ipsos Business Consulting, tổng nguồn cung lợn thịt tại Việt Nam ước tính chỉ đạt khoảng 41 triệu con trong năm 2018. Tuy nhiên, để chăn nuôi lợn có hiệu quả, cần phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm.
Bởi dịch bệnh xảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng đàn lợn, nó làm tăng chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm. Trong chăn nuôi lợn, bệnh phân trắng ở lợn con sau giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi thường xuyên xảy ra gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi, làm giảm đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn con giai đoạn này. Ở Việt Nam, bệnh tiêu chảy phân trắng ở lợn con có từ rất lâu. Theo Nguyễn Bá Hiên (2001) [7], cho rằng nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc là do vi khuẩn E.coli, Salmonell và Clostridium.
Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn con ngoài nguyên nhân do nhiễm khuẩn, kí sinh trùng, nội khoa còn phụ thuộc vào thức ăn chăn nuôi, chế độ dinh dưỡng, khai thác và sử dụng, thời tiết khí hậu và vệ sinh chuồng trại kém là tác nhân quan trọng c 2 tác động lên lợn con ỉa phân trắng (Hồ Văn Nam, 1997) [13]. Đã có nhiều công trình nghiên cứu nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích và cách phòng trị về bệnh này được công bố và có rất nhiều loại thuốc, hóa dược được sử dụng để phòng và trị bệnh này nhưng các kết quả thu được lại không được như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc, chậm lớn và thời gian nuôi kéo dài. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất và trên cơ sở thừa kế những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, em tiến hành thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc và phòng trị bệnh phân trắng cho lợn con gia đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn công ty cổ phần Nam Việt - Định Hóa - Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Đánh giá chung tình hình chăn nuôi tại trại của công ty cổ phần Nam Việt - Định Hóa - Thái Nguyên.
- Tìm hiểu quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh tại trại lợn công ty cổ phần Nam Việt - Định Hóa - Thái Nguyên. - Đánh giá tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con và lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp nhằm đưa ra biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả tại trang trại. Yêu cầu của đề tài - Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại. - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn con và áp dụng được quy trình vệ sinh phòng bệnh.
- Tìm hiểu được nguyên nhân gây bệnh và phác đồ điều trị có hiệu quả đối với bệnh phân trắng ở lợn con giai đoạn theo mẹ. c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện của cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất 2.
Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Trại lợn công ty cổ phần Nam Việt nằm tại xã Phượng Tiến - một trong những xã miền núi của huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên. - Phía Tây Bắc giáp với thị trấn Chợ Chu. - Phía Đông Bắc và Đông giáp xã Tân Dương. - Phía Đông Nam giáp xã Yên Trạch của huyện Phú Lương.
- Phía Nam giáp xã Trung Hội. Đặc điểm khí hậu thời tiết: Trại lợn công ty cổ phần Nam Việt chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu miền Bắc, bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa. Sự phối hợp giữa cơ chế gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm, có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa nóng và mùa lạnh nên có thể phân ra làm 4 mùa. Mùa đông lạnh, hanh khô có kèm theo gió mùa, mưa ít.
Mùa hè nóng, mưa nhiều. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10), còn được gọi là mùa xuân và mùa thu. Đó là một trong những yếu tố khách quan tác động đến quá trình sinh trưởng, phát triển của vật nuôi và phẩm chất của nông sản. Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8.
Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân năm là 250C. Mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 9, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng c 4 10. Mùa lạnh bắt đầu từ giữa tháng 11 đến hết tháng 3. Từ cuối tháng 11 đến tháng 1 rét và hanh khô, từ tháng 2 đến hết tháng 3 lạnh và mưa phùn kéo dài từng đợt.
Trong khoảng tháng 9 đến tháng 11, có những ngày thu với tiết trời mát mẻ và sẽ đón từ hai đến ba đợt không khí lạnh yếu tràn về. Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm thường lớn hơn 80%. Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1. Đặc điểm cơ sở vật chất của trại Trại lợn công ty cổ phần Nam Việt được xây dựng trên diện tích đất 2 ha, trong đó kết hợp cả vườn cây.
Có 1 quản lý, 1 kỹ sư, 2 tổ trưởng, 1 nấu ăn, 7 công nhân trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn. Ưu điểm: Trại có vị trí thuận lợi cho việc vận chuyển các sản phẩm từ trại đi tiêu thụ, cũng như vận chuyển thức ăn vào trại, trại cách xa nhà dân, xa các nơi sinh hoạt xã hội nên tránh được việc tiếp xúc với bên ngoài, giảm thiểu được dịch bệnh lây lan từ ngoài vào cũng như từ trong trại ra bên ngoài. Trại được xây dựng theo hướng Đông Nam nên đón được nắng buổi sáng, tránh được nắng buổi chiều, trại có hệ thống thoát nước rất dễ dàng, mùa mưa khô ráo không bị ngập nước. • Chuồng trại: + Chuồng bầu Chuồng nái chửa có 2 chuồng là chuồng sàn, nền được lát bằng xi măng.
Mỗi ô chỉ nuôi 1 con và giữa các ô được ngăn cách với nhau bằng các khung sắt. Mỗi ô có các chiều đo là: dài x rộng x cao = 2. Ưu điểm: Tiết kiệm được diện tích, dễ theo dõi chăm sóc, tránh được sự cắn nhau gây sẩy thai, thuận tiện cho việc tiêm phòng cho lợn chửa. Nhược điểm: Sự vận động của lợn nái bị hạn chế, lợn nằm xuống đứng dậy khó khăn.
c 5 + Chuồng đẻ Chuồng nái đẻ có 4 chuồng là chuồng sàn, dài x rộng x cao = 2. Sàn được làm bằng nhựa. Sàn cách mặt đất 50cm, có các lỗ nhỏ để thoát nước tiểu và nước phân. Giữa phần dành cho lợn mẹ và phần dành cho lợn con được ngăn cách bởi khung sắt, tránh lợn mẹ đè chết lợn con.
Ưu điểm: Sàn chuồng cách biệt với mặt đất, có nhiều lỗ để thoát phân và nước tiểu nên giữ được chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ, tiết kiệm được diện tích. Giữa phần cho lợn mẹ và lợn con có khung sắt chỉ cho lợn con qua lại nên giảm tỷ lệ lợn con bị mẹ đè. Nhược điểm: Diện tích chuồng hẹp dễ gây stress cho lợn mẹ + Chuồng cách ly Có 1 chuồng được thiết kế theo kiểu chuồng kín, ở đây là nơi nhập lợn mới chuyển về trại. Trại này có 5 ô cách li, có một lối đi chung để tiện cho lợn ăn và lùa lên chuồng bầu.
Ưu điểm: Mỗi chuồng nền được lát bằng xi măng và có diện tích đủ rộng để lợn có thể vận động thoải mái. Nhược điểm: Lợn hậu bị nuôi nhốt và chưa tập lợn ỉa đúng chỗ nên ỉa phân toàn chuồng, là điều kiện để phát sinh mầm bệnh và lây lan từ con ốm sang con lành. - Thiết bị sản xuất (máy soi tinh trùng, máy hấp.) - Trại có các loại máy móc: Máy quạt công suất lớn, dàn mát. - Trại có các loại các dụng cụ như thùng đá, chổi quét, khi hót phân, xe đẩy cám, xe đẩy phân.
- Trại có tổng đàn lợn khoảng 448 lợn nái sinh sản, 150 nái hậu bị và 19 con đực giống. c 6 - Trong trại có các loại thuốc: Nofloxacin, Amoxycillin, Bcomlex, Oxytoxcin, ADE, Enrofloxacin, Penstrep, Glucose. và các thuốc sát trùng chuồng trại Omicide, vôi bột… - Các loại thiết bị để tiêm chích như ringer, kim tiêm các cỡ, dụng cụ để phối giống như ống phối, bình xịt sinh lý mặn. Hệ thống cấp thoát nước của trại lợn được lấy từ nguồn nước giếng cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống chuồng lợn và hệ thống mương thoát nước thải, do đó đảm bảo vệ sinh môi trường rất tốt cho khu vực dân cư sinh sống.
• Năng lực lao động Do đặc thù của trại lợn chăn nuôi có lao động hầu hết nặng về kỹ thuật, đòi hỏi năng lực nghiệp vụ, tay nghề hết sức quan trọng trong mọi thao tác hàng ngày. Việc bố trí tổ chức hợp lý, định mức lao động phù hợp là một trong những vấn đề mà người quản lý cần phải quan tâm. • Công tác thú y Trong ngành chăn nuôi, công tác thú y chiếm vai trò rất quan trọng. Luôn lấy phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh", thường xuyên xác định sự xuất hiện của mầm bệnh trong môi trường là điều quan trọng để có biện pháp phòng bệnh tốt.
- Công tác tiêm phòng cho các loại lợn, các loại bệnh, thường xuyên đảm bảo theo lịch trình (tiêm sắt, vaccine suyễn, dịch tả.) Đối với chuồng trại luôn đảm bảo quy trình: + Hạn chế người ngoài vào khu chăn nuôi. + Thực hiện sát trùng các dụng cụ chăn nuôi đưa từ ngoài vào. + Cổng khu chuồng trại có hố sát trùng.