Tài liệu Y tế: Chăm sóc người bệnh sau can thiệp động mạch ngoại biên và

Chuyên khảo y tế phân tích Chăm sóc người bệnh sau can thiệp động mạch ngoại biên và một số yếu tố liên quan tại viện tim mạch, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Trường Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

126
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Và Tầm Quan Trọng Của Chăm Sóc Sau Can Thiệp Động Mạch

Chăm sóc người bệnh sau can thiệp động mạch là một quá trình điều dưỡng toàn diện, đóng vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ sự phục hồi và ngăn ngừa các tai biến mạch máu cho bệnh nhân. Sau khi thực hiện can thiệp động mạch ngoại biên, người bệnh cần được chăm sóc chuyên biệt để đảm bảo đặc điểm vết mổ, quản lý đau, và theo dõi các biến chứng có thể xảy ra. Theo tài liệu nghiên cứu của Trường Đại học Thăng Long tại Viện Tim Mạch - Bệnh viện Bạch Mai, chăm sóc điều dưỡng sau can thiệp không chỉ tập trung vào xử trị vết mổ mà còn bao gồm các hoạt động kiểm soát yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, và rối loạn lipid máu. Những yếu tố này đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chăm sóc và hồi phục của bệnh nhân.

1.1. Định Nghĩa Bệnh Động Mạch Ngoại Biên

Bệnh động mạch ngoại biên (BĐMNB) là tình trạng hẹp hoặc tắc động mạch ở chi thể, làm giảm lưu lượng máu cấp cho cơ thể. Bệnh thường gặp ở các động mạch chi dưới, gây ra triệu chứng như đau chân khi đi bộ, yếu chi thể, và trong trường hợp nặng có thể dẫn đến hoại tử mô. Tần suất mắc bệnh tăng với tuổi và các yếu tố nguy cơ như hút thuốc, tiểu đường, và tăng huyết áp.

1.2. Vai Trò Của Điều Dưỡng Trong Quá Trình Phục Hồi

Điều dưỡng viên đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát hồi phục sau can thiệp, đánh giá các dấu hiệu bất thường, và cung cấp hỗ trợ chuyên môn cho bệnh nhân. Những hoạt động điều dưỡng bao gồm theo dõi dấu hiệu sinh tồn, quản lý đau, chăm sóc vết mổ, hỗ trợ vận động sớm, và tư vấn về lối sống lành mạnh để tối ưu hóa kết quả điều trị.

II. Các Yếu Tố Nguy Cơ Và Tình Trạng Bệnh Kèm Theo

Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh động mạch ngoại biên bao gồm hút thuốc, tuổi tác, giới tính nam, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, và béo phì. Những bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch hoặc nhồi máu cơ tim trước đây có nguy cơ cao hơn. Nghiên cứu tại Viện Tim Mạch - Bệnh viện Bạch Mai cho thấy nhiều bệnh nhân có kết hợp nhiều yếu tố nguy cơ, làm phức tạp hóa quá trình điều trị và chăm sóc sau can thiệp. Do đó, quản lý yếu tố nguy cơ là yếu tố then chốt để ngăn ngừa tai biến mạch máu não và các biến chứng khác. Điều dưỡng cần có kế hoạch chăm sóc phù hợp với từng bệnh nhân cụ thể.

2.1. Hút Thuốc Và Yếu Tố Liên Quan Đến Lối Sống

Hút thuốc là yếu tố nguy cơ chính gây hẹp động mạch và làm chậm quá trình phục hồi sau can thiệp. Bệnh nhân hút thuốc có nguy cơ tai biến cao gấp 2-3 lần so với bệnh nhân không hút thuốc. Các hoạt động điều dưỡng bao gồm tư vấn bỏ thuốc, hỗ trợ tâm lý, và theo dõi sức khỏe để giảm nguy cơ tái phát bệnh.

2.2. Tiểu Đường Và Tăng Huyết Áp

Đái tháo đườngtăng huyết áp là những bệnh lý kèm theo phổ biến ở bệnh nhân BĐMNB, làm tăng nguy cơ biến chứng sau can thiệp. Những bệnh nhân này cần kiểm soát chặt chẽ chỉ số đường huyết, huyết áp, và tuân thủ dùng thuốc. Điều dưỡng cần tăng cường giáo dục sức khỏe về chế độ ăn, hoạt động thể chất, và tầm quan trọng của việc kiểm tra định kỳ.

III. Quá Trình Chăm Sóc Trước Và Sau Can Thiệp

Chăm sóc trước can thiệp bắt đầu từ khâu chuẩn bị bệnh nhân, bao gồm đánh giá tổng thể tình trạng sức khỏe, kiểm tra cận lâm sàng, và tư vấn về quy trình can thiệp. Điều dưỡng cần giáo dục bệnh nhân về những gì sẽ xảy ra trong quá trình can thiệp, cách làm sạch vùng mổ, và chuẩn bị tâm lý. Sau can thiệp động mạch, chăm sóc tập trung vào theo dõi dấu hiệu sinh tồn, quản lý đau sử dụng thang đánh giá VAS, chăm sóc vết mổ để tránh nhiễm trùng, hỗ trợ bệnh nhân hoạt động sớm, và phòng ngừa tai biến mạch máu. Quá trình này kéo dài từ ngay sau can thiệp cho đến khi bệnh nhân xuất viện.

3.1. Chuẩn Bị Trước Can Thiệp

Giai đoạn chuẩn bị bao gồm đánh giá lâm sàng toàn diện, kiểm tra các xét nghiệm cần thiết như chỉ số khối cơ thể (BMI), huyết áp, đường huyết, và các chỉ số mạch máu khác. Điều dưỡng phải tư vấn về dùng thuốc, hướng dẫn cách vệ sinh vùng mổ, và tăng cường tâm lý cho bệnh nhân để giảm lo âu trước ca can thiệp.

3.2. Hoạt Động Chăm Sóc Sau Can Thiệp

Sau can thiệp động mạch ngoại biên, các hoạt động chăm sóc bao gồm theo dõi dấu hiệu sinh tồn thường xuyên, quản lý đau bằng thuốc và các biện pháp không dùng thuốc, chăm sóc vết mổ sạch sẽ để phòng ngừa nhiễm trùng, và hỗ trợ bệnh nhân hoạt động sớm để tăng cường lưu lượng máu và ngăn ngừa huyết khối.

IV. Yếu Tố Liên Quan Đến Kết Quả Chăm Sóc Và Hồi Phục

Kết quả chăm sóc sau can thiệp động mạch phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm tuổi tác, giới tính, tình trạng bệnh kèm theo, tôn trọng đối với hướng dẫn của nhân viên y tế, và tuân thủ điều trị dài hạn. Các nghiên cứu tại Viện Tim Mạch - Bệnh viện Bạch Mai cho thấy bệnh nhân được chăm sóc chuyên biệt có tỷ lệ tai biến và tái phát bệnh thấp hơn. Bệnh nhân nữ và bệnh nhân cao tuổi thường có nguy cơ biến chứng cao hơn, do đó cần chăm sóc và theo dõi kỹ hơn. Sự tham gia tích cực của bệnh nhân vào quá trình tự chăm sóc, tuân thủ dùng thuốc kháng đông máu, kiểm soát yếu tố nguy cơ, và hoạt động thể chất thích hợp là những yếu tố then chốt đảm bảo thành công của điều trị.

4.1. Vai Trò Của Tuân Thủ Điều Trị Dài Hạn

Tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định sự thành công của chăm sóc sau can thiệp động mạch. Bệnh nhân phải tuân thủ dùng thuốc kháng đông máu và các thuốc khác theo hướng dẫn, định kỳ kiểm tra, và tuân theo chế độ ăn uống và hoạt động thể chất. Điều dưỡng cần tư vấn và hỗ trợ bệnh nhân để tăng cường tuân thủ và ngăn ngừa tai biến tái phát.

4.2. Giáo Dục Sức Khỏe Và Hỗ Trợ Dài Hạn

Giáo dục sức khỏe sau xuất viện là rất quan trọng để bệnh nhân hiểu biết về bệnh và cách quản lý yếu tố nguy cơ. Điều dưỡng cần cung cấp thông tin chi tiết về chế độ ăn lành mạnh, tầm quan trọng của hoạt động thể chất, dấu hiệu cảnh báo tai biến, và khi nào cần liên hệ bác sĩ. Sự hỗ trợ dài hạn từ nhân viên y tế giúp bệnh nhân đạt được kết quả chăm sóc tối ưu và cải thiện chất lượng sống.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về bệnh động mạch ngoại biên Theo Hội Tim mạch Châu Âu, bệnh động mạch ngoại biên là thuật ngữ đề cập đến những bệnh lý của mạch máu không phải là động mạch vành và động mạch chủ. Nó thường được giới hạn động mạch cảnh ngoài sọ, động mạch thận, động mạch dưới đòn và động mạch chi dưới [4] BĐMNB mạn tính là tình trạng giảm tưới máu cơ quan chủ yếu do nguyên nhân xơ vữa dẫn đến hẹp hoặc tắc mạn tính của các động mạch cảnh ngoài sọ, động mạch dưới đòn, động mạch thận và động mạch chi dưới [30]. Triệu chứng lâm sàng của BĐMNB rất đa dạng từ không có triệu chứng đến có triệu chứng: như đột quỵ thiếu máu não thoáng qua, nhồi máu não, đau cách hồi chi dưới, hội chứng cướp máu động mạch dưới đòn.

Đặc biệt khi bệnh tiến triển muộn hơn ví dụ ở bệnh động mạch chi dưới ở giai đoạn thiếu máu chi trầm trọng với biểu hiện lâm sàng điển hình là đau cả khi nghỉ (kéo dài trên 2 tuần), mất mô của chi: loét hoặc hoại tử hoặc cả hai, hoặc ở bệnh động mạch dưới đòn gây loét hoặc hoại tử đầu chi… [31]. Tần suất mắc bệnh 1. Bệnh động mạch cảnh Hình 1. Tổn thương hẹp động mạch cảnh [30].

Trong một phân tích gộp, tỉ lệ NB mắc bệnh động mạch cảnh trung bình đến nặng (hẹp trên 50%) là 4,2%. Trong đó, tỉ lệ nam giới <70 tuổi là 4,8% và nữ giới <70 3 Thư viện ĐH Thăng Long tuổi là 2,2 % [32]. NB trên 70 tuổi, có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn, với nam giới là 12,5% và nữ giới là 6,9%. Trong một nghiên cứu khác được thực hiện tại Hoa Kì trên 3,6 triệu người tham gia nghiên cứu, tỉ lệ NB có hẹp động mạch cảnh >50% là 3,9% [32],[33],[34] 1.

Bệnh động mạch dưới đòn Dựa trên sự chệnh lệch huyết áp tâm thu 2 tay (>15mmHg) và phát hiện hẹp động mạch dưới đòn trên phim chụp mạch số hóa xóa nền, tỉ lệ mắc bệnh động mạch dưới đòn là 2% trong dân số nói chung nhưng là 9% ở NB mắc bệnh động mạch chi dưới [35] Hình 1. Tổn thương hẹp động mạch dưới đòn do xơ vữa [30] 1. Bệnh động mạch thận Trong nghiên cứu Cardiovascular Study, tỉ lệ NB mắc bệnh động mạch thận hẹp >60% là 9,1% ở nam giới và 5,5% ở nữ giới. Trong số 450 NB được can thiệp động mạch vành qua da, thì tỉ lệ mắc bệnh động mạch thận là cao hơn: 7,7% [36] 4 Hình 1.

Tổn thương hẹp động mạch thận do xơ vữa [37]. Bệnh động mạch chi dưới (BĐMCD) BĐMCD là bệnh lý thường gặp với số lượng lớn trong đối tượng người trưởng thành trên thế giới. Các nghiên cứu dịch tễ học xác định tần suất mắc BĐMCD dựa vào triệu chứng lâm sàng là đau cách hồi và đo chỉ số cổ chân – cánh tay. Tần suất mắc BĐMCD phụ thuộc vào tuổi của NB trong nghiên cứu, các yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch cũng như các biểu hiện bệnh lý động mạch phối hợp khác do xơ vữa.

Tổn thương ĐMCD do xơ vữa [38] Trong nghiên cứu Framingham, ở độ tuổi 30 – 44, tần suất mới mắc trung bình của đau cách hồi chi dưới ở nam là 6/10000 và nữ là 3/10000. Với độ tuổi từ 65 – 74, tần suất này tăng lên đến 61/10000 với nam và 54/10000 với nữ [39]. 5 Thư viện ĐH Thăng Long Nghiên cứu PARTNER ở Hoa Kỳ trên 6979 NB đến khám ban đầu tại cơ sở y tế (tuổi trên 70 hoặc trên 50 kèm theo tiền sử hút thuốc hoặc ĐTĐ) chỉ ra tỷ lệ BĐMCD lên tới 29% [40]. Trong nghiên cứu NHANES năm 2003, tỷ lệ mắc BĐMCD với quần thể trên 40 tuổi là 4,3%, trong đó với độ tuổi trung bình 66 thì tỷ lệ này lên tới 14,5 % [5][41].

Tại Việt Nam, cùng với các bệnh động mạch do xơ vữa khác như NMCT, đột quỵ… thì tỷ lệ NB nhập viện vì BĐMCD cũng ngày một gia tăng. Thống kê tại Viện Tim mạch Việt Nam chỉ ra tỷ lệ NB BĐMCD điều trị nội trú tại Viện tăng từ 1,7% (2003) lên tới 2,5% (2006) và 3,4% (2007) [5]. Các yếu tố nguy cơ và các bệnh lý kèm theo. Các yếu tố nguy cơ của BĐMNB mạn tính - Xơ vữa động mạch: là nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh động mạch chi dưới mạn tính (chiếm 90%) [7].

- Tuổi: Tần suất mắc BĐMNB tăng theo tuổi, thường bắt đầu sau tuổi 40. Tuổi trên 70 là một yếu tố nguy cơ độc lập của BĐMCD [9], ở nhóm tuổi ít hơn cần có các yếu tố nguy cơ khác như là hút thuốc lá. NB lớn tuổi bị BĐMCD thường kèm theo các bệnh nội khoa nặng làm giảm khả năng đi lại. - Giới: Bệnh phổ biến ở nam giới hơn so với nữ giới.

Tỷ lệ này cũng tăng tỷ lệ thuận ở các nhóm tuổi [9]. - Hút thuốc lá, thuốc lào (sau đây gọi chung là thuốc lá) là yếu tố nguy cơ có mối tương quan chặt chẽ với các bệnh lý tim mạch. Một số tác giả cho rằng thuốc lá làm tổn thương nội mạc, tăng sinh cơ trơn mạch máu, huyết khối vi mạch, tăng tình trạng viêm, tăng trương lực giao cảm và nhiều bất thường chuyển hóa làm tiến triển bệnh xơ vữa động mạch [41], [42]. Một số nghiên cứu cho thấy thuốc lá làm tăng nguy cơ bệnh động mạch chi dưới từ 2 -6 lần, tăng tỷ lệ cắt cụt chi từ 3 -10 lần [7].

- Đái tháo đường: Đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc BĐMNB từ 2 – 4 lần. Trong nghiên cứu Framingham, ĐTĐ làm tăng nguy cơ bị đau cách hồi chi dưới gấp 3,5 lần với nam và 8,6 lần với nữ giới. Nguy cơ mắc BĐMNB tỷ lệ thuận với mức độ nặng và thời gian bị mắc bệnh ĐTĐ [4], [7]. Tổn thương xuất hiện sớm hơn, đối xứng 2 bên, ảnh hưởng tới nhiều đoạn ĐM; quá trình vữa xơ ĐM tiến triển nhanh, thường gây thiếu máu mạn tính trầm trọng, loét, hoại tử và phải cắt cụt chi [43].

6 - Rối loạn lipid máu: Trong BĐMNB kiểu rối loạn lipid máu hay gặp phối hợp giữa giảm HDL-C và tăng LDL-C, tăng triglycerid máu, với tỷ lệ thường gặp từ 21% - 64%. Theo nghiên cứu Framingham, tăng cholesterol làm tăng gấp đôi nguy cơ đau cách hồi. Nghiên cứu NHANES và PARTNERS cho thấy tỷ lệ người mắc BĐMNB có tăng cholesterol máu là 60% và 77% [40], [41]. - Tăng huyết áp: là yếu tố nguy cơ quan trọng của xơ vữa mạch máu, Theo tác giả Hoàng Minh Lợi NB tổn thương ĐM chậu có tăng huyết áp tỷ lệ ở trong khoảng từ 58% - 67% [19].

- Các yếu tố nguy cơ khác: Tăng Protein C phản ứng [7], tăng homocystein máu [7], tiền sử gia đình và các yếu tố di truyền, vv… cơ chế chưa rõ ràng đang tiếp tục được nghiên cứu. Biểu hiện lâm sàng của bệnh động mạch ngoại biên 1. Bệnh động mạch cảnh [5],[32],[33] Phần lớn không có triệu chứng lâm sàng, phát hiện nhờ nghe thấy tiếng thổi động mạch cảnh hoặc siêu âm Doppler thường quy (tiếng thổi mạch cảnh có độ nhạy và độ đặc hiệu khoảng 60% trong phát hiện hẹp ý nghĩa động mạch cảnh). Trong khám lâm sàng, chú ý phát hiện các dấu hiệu thần kinh (triệu chứng, di chứng đột quỵ) và tim mạch (tìm nguồn gốc của thuyên tắc như rung nhĩ, hẹp van hai lá).

Tai biến mạch não thoáng qua là triệu chứng chính, nếu không có triệu chứng thần kinh, cần khai thác kỹ tiền sử đột quỵ hoặc tai biến mạch não thoáng qua trong vòng 6 tháng trước. Triệu chứng chính của đột quỵ nguồn gốc từ động mạch não giữa do hẹp động mạch cảnh trong: Tê bì, liệt nửa người đối bên; mù thoáng qua; thất ngôn. Bệnh động mạch dưới đòn [28] Phần lớn bệnh không có triệu chứng lâm sàng, bệnh được phát hiện thông qua chênh lệch huyết áp tâm thu 2 tay (>10-15mmHg). Tuy nhiên khi bệnh tiến triển gây ảnh hưởng đến dòng chảy qua động mạch đốt sống sẽ gây triệu chứng thiếu máu hay hội chứng ăn cắp máu động mạch dưới đòn khi NB gắng sức ở cánh tay.

Biểu hiện bệnh trên lâm sàng: NB có chóng mặt, rối loạn thăng bằng, ngất, nói khó hoặc tê vùng mặt khi NB gắng sức ở cánh tay cùng bên với tổn thương. 7 Thư viện ĐH Thăng Long Thăm khám lâm sàng có thể phát hiện ngón tay lạnh nhợt, tê bì. Sờ mạch nách, cánh tay có thể yếu hoặc mất. Nghe vùng dưới đòn: có tiếng thổi tâm thu do động mạch dưới đòn bị hẹp.

Bệnh động mạch thận [5] Biểu hiện thường gặp là THA, 1/3 số NB có THA ác tính hoặc không được kiểm soát dù đã dùng nhiều loại thuốc. Có thể gặp hẹp động mạch thận ở những NB suy thận mạn hoặc suy thận giai đoạn cuối có hoặc không kèm theo tăng huyết áp. Các tình huống lâm sàng gợi ý hẹp động mạch thận bao gồm: • Khởi phát THA ở người trẻ (dưới 40 tuổi). • Khởi phát THA nặng ở tuổi trên 55, kèm theo suy tim, suy thận mạn.

• THA kèm theo thổi ở động mạch chủ bụng. • THA tiến triển nhanh, khó kiểm soát ở NB THA trước đó vẫn kiểm soát tốt và tuân thủ điều trị. • THA kháng trị (loại trừ nguyên nhân THA khác, không kiểm soát được huyết áp mặc dù đã dùng 3 nhóm thuốc huyết áp đủ liều, trong đó có 1 thuốc lợi tiểu). • Cơn THA cấp cứu (suy thận cấp, suy tim cấp, bệnh não THA, bệnh võng mạc độ 3 - 4).

• Suy thận cấp hoặc tăng creatinin huyết thanh khi dùng thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể. • Teo thận không rõ nguyên nhân, hoặc chênh lệch kích thước thận, hoặc suy thận không rõ nguyên nhân. • Phù phổi thoáng qua tái phát. Bệnh động mạch chi dưới [5],[31].

❖ Triệu chứng cơ năng • Mỏi hai chân: xuất hiện sớm, là dấu hiệu báo hiệu của đau cách hồi. • Đau cách hồi: triệu chứng lâm sàng chính phản ánh tình trạng giảm cấp máu phía hạ lưu và cũng là nguyên nhân khiến NB phải đến khám. • Đau cách hồi chi dưới điển hình: đau kiểu chuột rút của chi dưới, xuất hiện sau khi đi được một khoảng cách nhất định giảm hoặc mất khi nghỉ ngơi. Vị trí đau giúp gợi ý vị trí động mạch bị tổn thương: Đau ở vùng mông hoặc đùi: tổn thương động mạch chậu.

8 Đau ở bắp chân: tổn thương đoạn động mạch đùi – khoeo. Đau ở bàn chân: tổn thương các động mạch ở cẳng chân. • Đau chi dưới không điển hình: đau chi dưới liên quan đến gắng sức, không giảm rõ rệt khi nghỉ, hay hạn chế đi lại một cách không hằng định với quãng đường tương tự [7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ