Khảo sát thay đổi nhiệt độ da cổ gáy khi châm huyệt Thúc Cốt và Trung Chữ

Nghiên cứu khoa học về tác động của châm huyệt Thúc Cốt, Trung Chữ đến thân nhiệt vùng cổ gáy. Kết quả và phân tích chi tiết từ luận văn y học.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn bác sĩ nội trú

2023

172
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Châm Huyệt Thúc Cốt và Trung Chữ

Châm huyệt Thúc Cốt (BL-65) và Trung Chữ (TB-3) là hai huyệt vị quan trọng trong y học cổ truyền Việt Nam. Huyệt Thúc Cốt nằm trên đường kinh Bàng quang, trong khi huyệt Trung Chữ thuộc đường kinh Tam tiêu. Cả hai huyệt này đều có tác dụng điều hòa và cân bằng chức năng cơ thể. Theo các tác phẩm kinh điển, Du huyệt có vai trò quan trọng trong việc điều tiết các chức năng sức khỏe toàn thân. Nghiên cứu hiện đại tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023 đã khảo sát chi tiết sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da vùng cổ gáy khi thể châm huyệt tại hai vị trí này. Kết quả nghiên cứu mở ra những hiểu biết mới về cơ chế tác động của châm cứu đối với sinh lý thân nhiệt của con người.

1.1. Vị Trí và Chức Năng của Huyệt Thúc Cốt

Huyệt Thúc Cốt (BL-65) được xác định là huyệt mở của đường kinh Bàng quang, nằm ở bên ngoài bàn chân. Huyệt này có tác dụng giải biểu, tỏa diêm, giúp điều tiết thân nhiệt và cân bằng năng lượng cơ thể. Theo lý thuyết cổ truyền, châm huyệt Thúc Cốt có khả năng kích thích các dây thần kinh, từ đó ảnh hưởng đến hệ thống bì bộ và điều hòa sinh lý điều hòa thân nhiệt.

1.2. Vị Trí và Chức Năng của Huyệt Trung Chữ

Huyệt Trung Chữ (TB-3) nằm trên đường kinh Tam tiêu, tại vùng cổ tay. Huyệt này có tác dụng kích thích hệ thần kinh, giúp cải thiện lưu thông khí huyết. Châm huyệt Trung Chữ được sử dụng rộng rãi trong điều trị các vấn đề liên quan đến cổ gáy và vai do tác dụng giảm căng thẳng cơ.

II. Ảnh Hưởng Nhiệt Độ Cổ Gáy Sau Châm Huyệt

Nghiên cứu về ảnh hưởng nhiệt độ cổ gáy khi thể châm huyệt Thúc Cốt và Trung Chữ đã được tiến hành trên những người tình nguyện khỏe mạnh. Sử dụng phương pháp ghi nhiệt độ bề mặt da bằng hồng ngoại với máy FLIR C5, các nhà nghiên cứu đã đo lường sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da tại vùng cổ gáy trước và sau can thiệp. Kết quả cho thấy châm huyệt tác động trực tiếp đến tia hồng ngoại phát ra từ cơ thể, phản ánh sự thay đổi trong sinh lý điều hòa thân nhiệt. Điều này chứng minh rằng châm cứu không chỉ là phương pháp điều trị tại chỗ mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống bì bộđiều hòa thân nhiệt của cơ thể.

2.1. Sự Thay Đổi Nhiệt Độ Sau Châm Huyệt Thúc Cốt

Sau khi thể châm huyệt Thúc Cốt, nhiệt độ bề mặt da vùng cổ gáy thường có sự thay đổi đáng kể. Hiện tượng này được giải thích bằng cơ chế kích thích thần kinh, giúp cải thiện lưu thông máu và tăng cường hoạt động của hệ thương cảm. Phương pháp ghi hồng ngoại đã ghi nhận sự gia tăng hoặc giảm nhiệt độ tùy theo tình trạng sức khỏe ban đầu của người tham gia.

2.2. Sự Thay Đổi Nhiệt Độ Sau Châm Huyệt Trung Chữ

Châm huyệt Trung Chữ cũng gây ra sự thay đổi nhiệt độ tại vùng cổ gáy, mặc dù mức độ thay đổi có thể khác so với Thúc Cốt. Điều này cho thấy rằng mỗi huyệt có ảnh hưởng độc lập đến điều hòa thân nhiệt toàn thân. Khoảng tin cậyđộ lệch chuẩn trong các phép đo cho thấy sự nhất quán của kết quả.

III. Phương Pháp Đo Lường Nhiệt Độ Bằng Công Nghệ Hồng Ngoại

Phương pháp ghi nhiệt độ bề mặt da bằng hồng ngoại (Infrared Radiation) là công nghệ tiên tiến được sử dụng trong nghiên cứu này. Camera nhiệt FLIR C5 có khả năng đo lường chính xác tia hồng ngoại phát ra từ cơ thể con người, phản ánh nhiệt độ bề mặt da tại các vùng khác nhau. Phương pháp này không xâm lấn, an toàn và có độ chính xác cao, phù hợp với các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng (RCTs). Các thông số kỹ thuật cơ bản của máy FLIR C5 cho phép các nhà nghiên cứu ghi nhận những thay đổi nhỏ nhất trong nhiệt độ bề mặt da, giúp đánh giá chính xác tác dụng của châm huyệt đối với sinh lý điều hòa thân nhiệt.

3.1. Nguyên Lý Công Nghệ Hồng Ngoại

Tia hồng ngoại được phát ra tự nhiên bởi tất cả các vật thể có nhiệt độ. Camera nhiệt có khả năng phát hiện và chuyển đổi tia hồng ngoại này thành hình ảnh nhiệt độ. Theo Hiệp hội quốc tế về hóa nhiệt động năm 2020 (IACT-2020), phương pháp này được công nhận là tiêu chuẩn vàng trong đo lường nhiệt độ bề mặt.

3.2. Ưu Điểm Của Phương Pháp Đo Lường Này

Phương pháp ghi hồng ngoại có nhiều ưu điểm so với các phương pháp truyền thống. Nó không gây bất kỳ tổn thương hay khó chịu cho người tham gia, cho phép đo lường liên tục trong thời gian dài, và có độ chính xác cao đạt đến phần trăm độ. Điều này làm cho nó trở thành công cụ lý tưởng cho khảo sát sự thay đổi nhiệt độ sau châm cứu.

IV. Ý Nghĩa Lâm Sàng và Triển Vọng Ứng Dụng

Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng nhiệt độ cổ gáy từ châm huyệt Thúc Cốt và Trung Chữý nghĩa thực tiễn quan trọng trong lĩnh vực y học cổ truyềny học hiện đại. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng châm cứu trong điều trị các vấn đề cổ gáy, như đau cơ, căng thẳng, và các rối loạn liên quan. Huyệt đặc hiệu được chọn trong nghiên cứu này có thể được áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Ngoài ra, nghiên cứu này mở ra triển vọng cho các nghiên cứu tiếp theo về cơ chế tác động của châm cứu đối với các hệ thống sinh lý khác của cơ thể. Nguy cơ sai lệch trong nghiên cứu đã được kiểm soát chặt chẽ, nâng cao tính tin cậy của kết quả.

4.1. Ứng Dụng Trong Điều Trị Đau Cổ Gáy

Châm huyệt Thúc Cốt và Trung Chữ có thể được sử dụng hiệu quả trong điều trị đau cổ gáy và các vấn đề liên quan. Sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da được ghi nhận từ nghiên cứu cho thấy rằng châm cứu kích thích hệ thần kinh, cải thiện lưu thông máu, và giảm căng thẳng cơ. Điều này làm cho châm cứu trở thành phương pháp điều trị không dùng thuốc hiệu quả.

4.2. Hạn Chế và Định Hướng Tương Lai

Mặc dù hạn chế của nghiên cứu hiện tại là cỡ mẫu còn nhỏ và thời gian theo dõi hạn chế, nhưng những kết quả thu được đã tạo nền tảng vững chắc cho các công trình nghiên cứu tương lai. Các công trình đã công bố cho thấy xu hướng ngày càng tăng trong việc sử dụng công nghệ hồng ngoại để đánh giá hiệu quả của châm cứu.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trong hơn 2500 năm qua, y học cổ truyền đặc biệt là châm cứu đã được sử dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe và được WHO công nhận với vai trò điều trị nhiều bệnh lý khác nhau1. Bên cạnh đó, nhiều cơ chế sinh học phân tử của châm cứu trong quản lý đau đã được làm sáng tỏ2. Châm cứu cũng như dưỡng sinh, xoa bóp đã được đưa vào các khuyến cáo về quản lý đau của NICE vào năm 20213. Châm cứu được xem là một liệu pháp an toàn, hiệu quả và tiết kiệm chi phí, giảm tình trạng lạm dụng thuốc giảm đau có nguồn gốc á phiện4.

Trong điều trị bệnh lý đau nói chung và đau cổ gáy nói riêng, các huyệt đặc hiệu được sử dụng phổ biến trong y văn cũng như trong các nghiên cứu lâm sàng, cho hiệu quả tương đương và cao hơn so với chỉ dùng các huyệt tại chỗ5-8. Trong đó, các Du huyệt trong hệ thống Ngũ du huyệt là những huyệt được sử dụng nhiều nhất trong điều trị các bệnh lý vùng cổ gáy7. Nan kinh, nan thứ 68 viết: “Du chủ mình nặng khớp đau”9, trong đó các Du huyệt trên kinh Dương thường được sử dụng với tác dụng hành khí hoạt huyết trên đường kinh, điều trị các chứng đau do tắc trở kinh lạc10. Tuy nhiên, việc sử dụng các Du huyệt để điều trị các bệnh lý vùng cổ gáy chủ yếu xuất phát từ kinh nghiệm lâm sàng và dựa trên các ghi chép trong y văn, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh mối liên quan giữa các Du huyệt này với vùng cổ gáy.

Theo học thuyết kinh lạc, vùng cổ gáy được bao phủ bởi hệ thống bì bộ của các kinh Thái dương và kinh Thiếu dương9. Trong đó, Trung chữ và Thúc cốt là hai Du huyệt tương ứng của kinh Tam tiêu và kinh bàng quang, được ghi nhận có tác dụng điều trị đau cổ gáy trong y văn11 và được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu để điều trị chứng đau cổ gáy7. Mặt khác, đau cổ gáy có nhiều nguyên nhân khác nhau, và vị trí đau cũng có thể thay đổi trên từng người bệnh khác nhau, tùy thuộc vào cấu trúc nào của vùng cổ gáy bị ảnh hưởng. Do đó, việc lựa chọn các huyệt Trung chữ và Thúc cốt có phụ thuộc vào vị trí đau cụ thể hay không vẫn chưa được chứng minh rõ ràng.

2 Trong những năm gần đây, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, bằng phương pháp ghi hình ảnh nhiệt ứng dụng tia hồng ngoại, đã có một số nghiên cứu cho thấy tác dụng của huyệt trên sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da tại chỗ, theo đường kinh và tại vùng chi phối đặc hiệu thông qua châm cứu12-16. Các nghiên cứu này đã chứng minh được huyệt đạo không chỉ có tác động trên vùng da tại chỗ mà còn tác động lên những vùng da khác trên cùng đường kinh, hay trên vùng da có mối liên hệ với huyệt theo lý luận YHCT (các lục tổng huyệt, lục hợp huyệt, bát mạch giao hội huyệt, các huyệt đặc hiệu vùng,…). Do đó, xuất phát từ những vấn đề nêu trên, trong nghiên cứu này chúng tôi muốn khảo sát mối liên quan của hai huyệt Trung chữ và Thúc cốt với vùng cổ gáy, dựa trên lý thuyết đã được chứng minh về tác dụng làm thay đổi nhiệt độ bề mặt da của huyệt thông qua châm cứu, bằng phương pháp ghi hình ảnh nhiệt với camera hồng ngoại. Câu hỏi nghiên cứu “Các huyệt Trung chữ và Thúc cốt có làm thay đổi nhiệt độ da tại vùng cổ gáy hay không, và sự thay đổi nhiệt độ này có tương quan với vùng phân bố bì bộ của kinh Thiếu dương và Thái dương tương ứng hay không?”.

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: “Khảo sát sự thay đổi nhiệt độ da vùng cổ gáy khi thể châm các huyệt Trung chữ và Thúc cốt hai bên trên tình nguyện viên khỏe mạnh.” Mục tiêu cụ thể: 1. So sánh khác biệt về sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da tại huyệt, tại đường kinh và tại vùng cổ gáy trước, trong và sau khi thể châm huyệt Trung chữ, huyệt Thúc cốt và huyệt đối chứng. So sánh khác biệt về sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da giữa vùng da thuộc bì bộ kinh Thái dương và vùng da thuộc bì bộ kinh Thiếu dương, khi thể châm huyệt Thúc cốt hai bên và khi thể châm huyệt Trung chữ hai bên.1 Hệ thống bì bộ Bì bộ là lớp bao phủ bên ngoài của hệ thống kinh lạc, hệ thống bì bộ không theo từng kinh riêng biệt trong 12 chính kinh mà được phân chia theo hệ thống lục kinh bao gồm: thiếu Dương, thái Dương, Dương minh, thiếu Âm, thái Âm, và quyết Âm. Các bì bộ kết nối hệ thống kinh lạc lại với nhau ở phía ngoài cùng của cơ thể, có nhiệm vụ lưu thông khí huyết, đặc biệt là Vệ khí, giúp bảo vệ cơ thể khỏi ngoại tà.

Do đó, hệ thống bì bộ cũng được nuôi dưỡng về hình thể và hoạt động chức năng bình thường bởi Phế khí và Vệ khí. Các rối loạn của tạng phủ có thể phản ánh ra hệ thống bì bộ, do đó giúp ích cho việc chẩn đoán trên lâm sàng9.1: Phân tầng hệ thống kinh lạc từ nông tới sâu9. Atlas of acupuncture. Elsevier Health Sciences; 2008.

Các phương pháp điều trị bao gồm: Đề châm, mai hoa châm, xoa bóp, giác hơi,…9 .2: Hệ thống bì bộ 9. Atlas of acupuncture. Elsevier Health Sciences; 2008. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn khảo sát các đường kinh Bàng quang và Tam tiêu vì hai đường kinh này có giải phẫu đường đi ngang qua vùng cổ gáy, các kinh cân của hai kinh này cũng đi qua vùng cổ gáy và có bệnh lý liên quan đến vùng cổ gáy9,10,17,18.

Mặt khác, hai huyệt Thúc cốt và Trung chữ là hai Du huyệt của hai đường kinh Bàng quang và Tam tiêu cũng được ứng dụng điều trị các bệnh lý vùng cổ gáy trong y văn cũng như trong các nghiên cứu lâm sàng7,9-11.2 Chức năng của Du huyệt trong các tác phẩm kinh điển Hệ thống kinh lạc được hình tượng hóa như một dòng sông đổ ra biển, Linh khu, thiên 1 viết: “Tỉnh là nơi kinh khí xuất ra, Huỳnh là nơi kinh khí chảy qua, Du là nơi kinh khí rót vào, Kinh là nơi kinh khí vận hành, Hợp là nơi kinh khí nhập vào”10.3: Hệ thống ngũ du huyệt10. The foundations of Chinese medicine: a comprehensive text. Elsevier Health Sciences. Tại Du huyệt, kinh khí trở nên lớn hơn và đi sâu vào bên trong hơn.

Kinh khí trở nên nhanh hơn và lớn hơn có thể cuốn theo những thứ khác đi cùng với nó, cho nên được gọi là Du huyệt, có nghĩa là nơi “vận chuyển”. Bên cạnh đó, tà khí bắt đầu đi vào trong và xâm nhập sâu hơn vào hệ thống kinh lạc thông qua các Du huyệt, đây cũng là nơi mà Vệ khí tập trung lại nhiều nhất10. Nan kinh, Nan thứ 68 viết: “Du chủ mình nặng khớp đau”, đoạn kinh này có nghĩa là Du huyệt là huyệt chủ yếu để điều trị các chứng đau do đàm thấp tắc trở quan tiết (thấp Tý). Đặc tính này thường dùng cho các Du huyệt ở kinh Dương nhiều hơn là các kinh Âm, ví dụ: Tam gian, Trung chữ, Hậu khê, Thúc cốt,…là các huyệt thường dùng trong điều trị đau cổ gáy7,10.

6 Các Du huyệt ngoài chức năng hành khí chỉ thống tại chỗ còn có thể sơ thông kinh lạc, khu phong hóa thấp trên suốt dọc đường kinh, ví dụ: các huyệt Hậu khê, Trung chữ và Tam gian đều có thể tán hàn trừ thấp dọc theo đường đi của các kinh Tiểu trường,Tam tiêu và Đại trường tương ứng10. Linh khu, thiên 4 viết: “Huyệt Huỳnh, huyệt Du trị ngoại kinh, huyệt Hợp trị nội phủ”, đoạn kinh văn này nhắc đến việc dùng các huyệt Huỳnh và Du để điều trị các chứng đau cho bất thông, theo lý luận YHCT, Du huyệt là nơi Vệ khí tập trung nhiều nhất và Huỳnh huyệt là nơi kinh khí chảy nhanh qua, do đó có khả năng hành khí tán tà, trong đó có cả Nhiệt tà10.3 Huyệt Thúc cốt (BL – 65) và đường kinh Bàng quang 1.1 Huyệt Thúc cốt Hình 1.4: Vị trí huyệt Thúc cốt9. Atlas of acupuncture. Elsevier Health Sciences; 2008.

Xuất xứ trong Linh khu – Bản du thiên, huyệt nằm ở đầu nhỏ của xương bàn chân thứ 5 nên có tên là “Thúc cốt”9,11. Huyệt thứ 3 của kinh Bàng quang, cũng là Du huyệt trong Ngũ du huyệt, thuộc hành Mộc9,11. 8 Vị trí: phía sau đầu nhỏ của xương bàn ngón 5, nơi tiếp giáp da gan và da mu bàn chân, da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh S19,11. Kinh nghiệm dùng huyệt: Phối Thiên trụ trị cứng cổ sợ gió (Bách chứng phú), Giáp ất kinh – quyển 7, viết: “đau đầu, mình đau, sốt, thịt giật, điếc, sợ gió, loét khóe mắt, gáy không thể quay,…dùng Thúc cốt làm chủ”, Đại thành – quyển 6, viết: “Thúc cốt chủ về đau cột sống thắt lưng như gãy,…cổ cứng khó quay,…”11,19.

Theo Lê Quý Ngưu, Thúc cốt là du huyệt của kinh Bàng quang, mà “Du chủ mình nặng khớp đau” nên dùng để chữa các rối loạn tại kinh cân Bàng quang như “gáy như bị kéo”, “cơ gáy căng cấp”, “lưng gáy đau” (Linh khu – Kinh cân thiên). Mặt khác theo lý thuyết sinh học 3D, Thúc cốt là bộ phận tương ứng của cột sống cổ. Vì vậy lấy huyệt này điều trị rất hiệu quả cho chứng đau cổ gáy11.2 Kinh Bàng quang 1.1 Lộ trình đường đi9 Đường Kinh nổi của kinh chính Bàng quang bắt đầu tại khóe mắt trong tại huyệt Tình Minh. Đường kinh nổi đi lên trán, tại đây nối với huyệt Thần Đình và Đầu Lâm Khắp, tiếp tục tới đỉnh đầu và nối với mạch Đốc tại huyệt Bách Hội.

Tại huyệt Bách Hội tách ra hai nhánh từ kinh chính: + Một nhánh đi đến vùng thái dương và nối với kinh chính Đởm tại Suất Cốc, Khúc Tân, Thiên Xung, Phù Bạch, Khiếu Âm và Hoàn Cốt. + Một nhánh khác thâm nhập sâu hơn vào não và vòng ra lại tại huyệt Não Hộ hay, theo như một số tác giả, tại Lạc Khước. Từ Bách Hội, đường kinh nổi chạy đến Lạc Khước và Ngọc Chẩm đi qua Não Hộ và tiếp tục đến Thiên Trụ tại vùng chẩm. Tại đây, đường kinh nổi của kinh chia thành hai nhánh: + Nhánh trong chạy đến Đại Chùy dưới gai đốt sống C7 nơi đây nó gặp các kinh chính Dương khác, sau đó tiếp tục đến Đào Đạo.

Từ đốt T1 đường kinh chạy song song với đường giữa lưng, cách đường này 1,5 thốn. Tại mức L2, đường kinh đi vào. 9 bụng để đến Thận và Bàng quang. Nhánh nổi chạy qua vùng mông và đùi đến hố khoeo (Ủy Trung), nơi nó tái hợp lại với nhánh nổi chạy phía ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ