CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DN.1 Cấu trúc tài chính DN 1.1 Khái niệm Cấu trúc tài chính là một khái niệm đề cập đến việc DN sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để tài trợ cho tài sản của DN. Cấu trúc tài chính phản ảnh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và mối quan hệ giữa chúng. Chỉ tiêu phản ảnh cấu trúc tài chính là tỷ suất nợ. Đó là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn cổ phần được dùng để tài trợ cho các quyết định đầu tư ở một DN[15].
Trong khi đó, cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ dài hạn và vốn cổ phần[15]. Như vậy, cấu trúc vốn chỉ là một phần của cấu trúc tài chính, tiêu biểu cho các nguồn dài hạn tài trợ cho một DN. Bảng cân đối kế toán Tài sản Nguồn vốn Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn Cấu trúc Cấu trúc tài chính Vốn chủ sở hữu vốn Theo đó, cấu trúc tài chính trừ đi nợ ngắn hạn sẽ cho ta cấu trúc vốn của DN. Hay nói khác đi, từ nghiên cứu cấu trúc vốn và nợ ngắn hạn ta có thể đánh giá được cấu trúc tài chính của DN.
Một cấu trúc tài chính có chi phí sử dụng vốn tối thiểu là cấu trúc tài chính tối ưu vì giá trị của DN được tối đa hóa tại thời điểm này. Trong khi đó, cấu trúc tài chính hợp lý phải đảm bảo sự hài hòa giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay, đồng thời chi phí sử dụng vốn phải thấp và phù hợp với điều kiện kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Thành phần của cấu trúc tài chính. Từ khái niệm trên, cấu trúc tài chính gồm có hai thành phần: Nợ (nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn) và vốn chủ sở hữu.
Trong khi đó cấu trúc vốn cũng gồm hai thành phần: Nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu. Cấu trúc tài chính = Nợ (ngắn hạn + dài hạn) + Vốn chủ sở hữu Cấu trúc vốn = Nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu Nợ: vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng trong họat động SXKD của DN. Vốn vay được hình thành do vay mượn (vay ngân hàng, phát hành trái phiếu…) các khoản mua chịu hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp, các khoản nợ tích lũy khác như các khoản phải trả công nhân viên, các khoản phải nộp nhà nước… - Vay tín dụng ngân hàng: DN thường vay ngân hàng để đảm bảo cho nguồn tài chính cho các họat động SXKD, đặc biệt là cho các dự án đầu tư chiều sâu của DN. Vốn vay ngân hàng thường phân thành: Vay ngắn hạn: thời hạn cho vay dưới 1 năm.
Vay trung hạn: thời hạn cho vay từ 1 đến 3 năm. Vay dài hạn: từ 3 năm trở lên. - Vay tín dụng thương mại: Đây là vốn chiếm dụng của nhà cung cấp do DN trả chậm hay nợ tiền hàng. Việc chiếm dụng này có thể giúp DN giải quyết nhanh chóng, tức thời nhu cầu vốn trước mắt cho DN.
Trong thực tế, do có sự khác nhau về chu kỳ sản xuất kinh doanh giữa các ngành khác nhau nên việc thiếu vốn ở ngành này, thừa vốn ở ngành khác là rất phổ biến. Vốn chủ sở hữu: là vốn thuộc sở hữu của DN. Khi DN mới thành lập thì vốn chủ sở hữu do các thành viên đóng góp. Trong quá trình họat động vốn được bổ sung thêm từ nguồn lợi nhuận giữ lại dùng để tái đầu tư, từ phát hành cổ phiếu ưu đãi hay cổ phiếu thường, nguồn kinh phí và các quỹ của DN.
Vốn của DN gồm ba bộ phận chủ yếu: -Vốn góp ban đầu: Theo quy định của pháp luật, bất kỳ DN nào khi mới thành lập phải có một số vốn họat động ban đầu do các thành viên đóng góp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 -Vốn từ lợi nhuận giữ lại: Qui mô vốn là yếu tố quan trọng, trong quá trình họat động SXKD, vốn thường được tăng lên theo qui mô phát triển của DN. Nếu DN họat động hiệu quả thì nguồn lợi nhuận sẽ được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng qui mô SXKD của DN. -Phát hành cổ phiếu: phát hành cổ phiếu là họat động tài trợ dài hạn của DN, đây là cách thức phổ biến để tăng qui mô vốn cho DN ở các CTCP khi công ty muốn phát triển mở rộng sản xuất hoặc đầu tư cho một dự án mới.1 Các đặc trưng của nợ so với vốn chủ sở hữu [15] Đặc trưng Nợ Vốn chủ sở hữu Nợ luôn có tính chất đáo Không có tính chất đáo hạn.
Một hạn vì nợ phải được chi trả chủ sở hữu muốn lấy lại tiền đã đầu Đáo hạn vào thời gian quy định tư thì phải hoặc là tìm một người trong thoả thuận giữa DN khác mua lại cổ phần của mình và chủ nợ. hoặc khi thanh lý DN. -Chủ nợ được ưu tiên hơn -Chủ sở hữu nhận được cổ tức sau chủ sở hữu. -DN trả lãi định kỳ cho -Cổ tức chia cho các cổ đông tuỳ Trái quyền đối khoản nợ.
thuộc vào quyết định của hội đồng với lợi nhuận quản trị -Chi trả lãi vay được giới -Có thể thay đổi theo lợi nhuận mà hạn vào một số lượng nhất DN thu được. định không phụ thuộc kết quả kinh doanh Quyền có tiếng Chủ nợ không có tiếng nói Các chủ sở hữu (nhất là cổ đông nói trong điều trực tiếp trong việc điều thường) có tiếng nói trực tiếp trong hành hành DN. việc điều hành DN. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Lãi vay được tính vào chi Cổ tức chia cho cổ phần ưu đãi và Thuế thu nhập phí khi xác định thuế cổ phần thường không được tính DN TNDN.
vào chi phí khi xác định thuế TNDN. Chi phí sử dụng nợ vay rẻ Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu hơn vốn cổ phần bởi vì: cao hơn nợ bởi vì chủ sở hữu rủi ro - Rủi ro đối với chủ nợ hơn chủ nợ, cụ thể: Chi phí sử dụng thấp hơn theo ưu tiên trái - Chủ sở hữu được chia cổ tức sau vốn quyền trước chủ sở hữu. khi DN chi trả lãi vay và nộp thuế. - Lãi vay tạo ra cho DN - Nếu DN phá sản, chủ sở hữu sẽ tấm chắn thuế nên gánh được phân chia tài sản sau cùng nặng thuế TNDN của DN (sau chủ nợ và chính phủ) giảm bớt đi Trái quyền là quyền dành cho một bên (được gọi là bên có quyền hay chủ nợ) được yêu cầu một bên khác (được gọi là bên có nghĩa vụ hay con nợ) phải thực hiện một nghĩa vụ luật định hay một nghĩa vụ ước định nào đó.
Nghĩa vụ này có thể là nghĩa vụ chuyển hữu, nghĩa vụ phải làm hay nghĩa vụ không được làm. Ví dụ: - Người mua phải trả tiền mua theo giá đã thỏa thuận, người bán phải giao vật bán (nghĩa vụ ước định, nghĩa vụ do hai bên thỏa thuận). - Người gây thiệt hại phải bồi thường tổn hại cho người bị hại (nghĩa vụ luật định).3 Các chỉ tiêu phản ảnh cấu trúc tài chính 1.1 Tỷ số nợ trên tài sản (Debt ratio): Tỷ số này cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản công ty được tài trợ bằng vốn vay Tổng nợ Tỷ số nợ = Tổng tài sản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tỷ số nợ trên vốn cổ phần (Debt to equity ratio): Tỷ số này phản ánh một đồng vốn “gánh” bao nhiêu đồng nợ. Nếu tỷ số này lớn hơn 1 nghĩa là cấu trúc tài chính nghiêng về thâm dụng nợ và ngược lại, nhỏ hơn 1 là thâm dụng vốn.
Tỷ số nợ Tổng nợ = trên vốn cổ phần Vốn cổ phần 1.3 Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần: Cho thấy mức độ tài trợ vốn vay một cách thường xuyên, qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu. Tỷ số nợ dài hạn Nợ dài hạn = trên vốn cổ phần Vốn cổ phần 1.4 Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần (equity multiplier ratio): Tỷ số này phản ánh tình hình vay nợ của công ty và cho biết một đồng vốn “gánh” bao nhiêu đồng nợ. Tỷ số này càng lớn càng làm gia tăng rủi ro tài chính. Tỷ số tổng tài sản Tổng tài sản = trên vốn cổ phần Vốn cổ phần 1.5 Khả năng thanh tóan lãi vay (times interest earned ratio): Tỷ số này dùng để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn vay để đảm bảo trả lãi vay hàng năm.
Tỷ số này càng cao thể hiện khả năng đảm bảo chi trả lãi vay càng cao. Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT) Khả năng thanh tóan lãi vay = Lãi vay Các chỉ tiêu trên giúp chúng ta đo lường sự đóng góp của nợ và vốn chủ sở hữu vào tổng nguồn vốn của DN. Nếu vốn chủ sở hữu đóng góp nhiều hơn nợ thì khả năng tự tài trợ vốn của DN cao. Ngược lại, nếu nợ đóng góp nhiều hơn vốn chủ sở hữu sẽ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 21 phản ảnh một tỷ số tỷ số đòn bẩy tài chính cao.
Tỷ số đòn bẩy tài chính giúp các nhà quản trị tài chính lựa chọn cấu trúc vốn hiệu quả nhất cho công ty mình.4: Nguyên tắc cơ bản họach định cấu trúc tài chính Cấu trúc tài chính bao gồm nợ ngắn hạn cộng với nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu, tất cả đều được dùng để tài trợ cho tài sản DN. Một cấu trúc tài chính tối ưu có chi phí sử dụng vốn là thấp nhất. Ngòai ra, khi thiết lập một cấu trúc tài chính tối ưu, DN còn phải căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản sau: [16] -Nguyên tắc tương thích (Nguyên tắc tự phòng ngừa): đó là tính tương thích của các lọai vốn sử dụng đối với tính chất của tài sản được tài trợ, tức là lọai vốn có được phải hài hòa với lọai tài sản họat động mà DN đang sử dụng. -Giá thị trường – hàm ý về rủi ro và tỷ suất sinh lợi: Khi xác lập cấu trúc tài chính DN cần phải kết hợp cả hai yếu tố rủi ro và tỷ suất sinh lợi xem chúng tác động thế nào đến giá trị cổ phần và do đó là giá trị thị trường của DN.
Ngay cả khi EBIT của DN ở trong triển vọng lạc quan với EBIT dự kiến vượt qua điểm hòa vốn EBIT làm cho thu nhập trên mỗi cổ phần EPS tăng lên thì chưa hẳn DN yên tâm về xác lập một cấu trúc tài chính thiên về sử dụng nợ. Lý do là rủi ro tăng thêm vượt quá tỷ suất sinh lợi mà cổ đông nhận được.