Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở 1. Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu 1. Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở Đất đai có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời, do đó đất đai luôn là mối quan quan tâm của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là sự xác lập hình thức pháp lý phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia. Có hai hình thức pháp lý sở hữu đất đai đang tồn tại ở các nƣớc trên thế giới đó là đất đai sở hữu đa thành phần và đất đai sở hữu của nhà nƣớc.
Quyền sở hữu đƣợc hợp thành bởi ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Trong đó từng quyền năng có thể do ngƣời không phải chủ sở hữu thực hiện, tuy nhiên việc thực hiện trong trƣờng hợp này phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu. Không giống nhƣ các loại tài sản thông thƣờng khác, đất đai là một loại tài sản đặc biệt không do con ngƣời tạo ra, có vị trí cố định, không bị mất đi khi đƣợc sử dụng hợp lý và ngày càng trở nên có giá trị. Do những tính chất đặc biệt này nên xuất hiện hai quan điểm về quyền sở hữu đất đai trái ngƣợc nhau, đó là thừa nhận quyền sở hữu tƣ nhân về đất đai và không thừa nhận quyền sở hữu tƣ nhân về đất đai.
Cũng do xuất phát từ tính chất đặc biệt của đất đai mà quan điểm về sở hữu tƣ nhân về đất đai không thể có quyền sở hữu tuyệt đối nhƣ những tài sản thông thƣờng. Ngoài ra, nội dung về quyền sở hữu đất đai ở mỗi quốc gia cũng khác nhau do phụ thuộc vào sự hình thành nhà nƣớc hoặc chủ quyền của mỗi quốc gia. Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. 8 z Xét về khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất.
Với tƣ cách đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nƣớc không trực tiếp sử dụng đất mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài nhƣng Nhà nƣớc không mất đi quyền sử dụng đất đai của mình. Bời vì Nhà nƣớc thực hiện quyền sử dụng đất bằng các hình thức chủ yếu sau: thông qua việc xây dựng, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; ban hành các quy định buộc các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất. Điều này có nghĩa là thông qua quá trình sử dụng đất của ngƣời sử dụng mà các ý tƣởng sử dụng đất của Nhà nƣớc sẽ thành hiện thực, đồng thời ngƣời sử dụng đất trong quá trình sử dụng phải đóng góp một phần lợi ích mà họ thu đƣợc cho Nhà nƣớc thông qua các hình thức thuế, lệ phí, tiền sử dụng đất … Quyền sử dụng đất của Nhà nƣớc phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nƣớc là đại diện của chủ sở hữu đất đai. Nên quyền sử dụng đất này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị hạn chế.
Còn quyền sử dụng đất của ngƣời sử dụng xuất hiện khi đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất… và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nƣớc vi vậy quyền sử dụng đất của họ bị Nhà nƣớc hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng [17, tr. Trong thực tế sử dụng đất, "quyền sử dụng đất" đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, thông qua việc ngƣời sử dụng đất đƣợc thực hiện nhiều quyền khác nhau mà Nhà nƣớc cho phép, để đảm bảo quyền và lợi ích của mình trong quá trình sử dụng đất nhƣ: quyền đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đƣợc hƣởng thành quả lao động, kết quả đầu tƣ trên đất đƣợc giao; đƣợc Nhà nƣớc hƣớng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; đƣợc 9 z Nhà nƣớc bảo vệ khi bị ngƣời khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; đƣợc quyền khiếu nại tố cáo về những hành vi vi phạm pháp luật đất đai; ngoài ra còn đƣợc hƣởng những quyền năng trong việc chuyển QSDĐ nhƣ quyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền đƣợc bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất. Đến đây có thể nhận thấy rằng, QSDĐ vừa mang tính phụ thuộc vào quyền sở hữu đất đai của Nhà nƣớc, đƣợc phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu của Nhà nƣớc và bị chi phối bởi quyền sở hữu nhà nƣớc đối với đất đai. Các QSDĐ của mỗi tổ chức, cá nhân có đƣợc xác lập hay không đều dựa trên cơ sở sự chuyển giao hoặc cho phép của Nhà nƣớc.
Điều này để minh chứng và giải thích rõ vì sao, trong quá trình thực hiện hoạt động cấp GCNQSDĐ, QSHNƠ, Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ sở hữu đại diện thể hiện sự can thiệp sâu vào quá trình thực hiện các quy trình, thủ tục, yêu cầu các điều kiện hồ sơ và những ràng buộc pháp lý khác về không gian, thời gian, về nghĩa vụ tài chính và các quy tắc khác mà ngƣời sử dụng đất phải thực hiện, phải chấp hành trƣớc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền khi muốn đƣợc cấp GCNQSDĐ, QSHNƠ. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác và sử dụng đất ấy, QSDĐ của mỗi chủ thể lại mang tính độc lập tƣơng đối, chúng đƣợc thoát ly ra khỏi quyền sở hữu và trở thành một chế định độc lập trong quan hệ với Nhà nƣớc và chủ thể khác. Ngƣời có QSDĐ đƣợc Nhà nƣớc xác lập có quyền chủ động khai thác và sử dụng cho các nhu cầu và mục đích khác nhau, có quyền yêu cầu Nhà nƣớc cung ứng các dịch vụ cần thiết để đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất, trong đó có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thực hiện các thủ tục hành chính cần thiết để cấp GCNQSDĐ, QSHNƠ cho ngƣời sử dụng đất. Với QSDĐ hợp pháp, ngƣời sử dụng đất đƣợc quyền đầu tƣ trên đất đó 10 z để đƣợc hƣởng hoa lợi, lợi tức và những lợi ích khác đƣợc tạo ra trên đất, gắn liền với đất.
Theo đó, nhà ở và các tài sản khác do ngƣời sử dụng đất đầu tƣ trên đó cũng sẽ thuộc quyền sở hữu của chính họ. Nhà nƣớc đảm bảo quyền định đoạt nhà ở, các tài sản gắn liền với đất cho ngƣời đƣợc sở hữu, đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ khi ngƣời khác xâm hại. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, tài sản là nhà ở và các tài sản khác chỉ thực sự có giá trị đích thực khi chúng gắn liền với đất hợp pháp. Vì vậy, khi Nhà nƣớc xác lập QSDĐ hợp pháp cần phải xem xét tại thời điểm đó có tài sản trên đất hay không, tài sản đƣợc tạo ra trên đất có hợp pháp hay không.
Trên thực tế, có những trƣờng hợp khi xem xét tính hợp pháp của tài sản là QSDĐ, nhà ở và các tài sản khác trên đất không phải bao giờ chúng cũng đầy đủ các cơ sở pháp lý để chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với một chủ thể, có trƣờng hợp QSDĐ của chủ thể là hợp pháp, song tài sản là nhà ở, công trình kiến trúc khác tạo ra trên đất lại không hợp pháp nhƣ: nhà ở, công trình xây dựng không có giấy phép, sai phép, vi phạm chứng chỉ quy hoạch, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc tài sản trên đất không thuộc quyền sở hữu của ngƣời có QSDĐ hợp pháp. Nhƣ vậy có thể hiểu: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức và các thuộc tính có ích khác đối với quyền sử dụng đất, nhà ở và các tài sản gắn liền với đất của người có quyền sở hữu và sử dụng tài sản đó. Các quyền này được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế. Đặc trưng của quyền sử dụng đất theo pháp luật đất đai Việt Nam: Theo hệ thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp và Luật Đất đai năm 2013 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất cho ngƣời sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai [29, Điều 4]. Theo đó Nhà nƣớc đảm bảo cho ngƣời sử dụng đất đƣợc sử dụng ổn định, lâu dài. Ngoài ra, ngƣời sử dụng 11 z đất còn đƣợc thực hiện các quyền giao dịch quyền sử dụng đất hợp pháp khác nhƣ: quyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền đƣợc bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất. So sánh với quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam có những đặc trƣng cơ bản sau: Thứ nhất, quyền sử dụng đất mang tính mở rộng, ngày càng tiệm cận với quyền sở hữu.
Là một trong ba quyền năng hợp thành nội dung sở hữu đất đai nhƣng quyền sử dụng đất theo pháp luật đất đai Việt Nam có ngày càng đƣợc mở rộng hơn rất nhiều. Điều này thể hiện qua các quyền đƣợc giao dịch dân sự của ngƣời sử dụng đất đƣợc pháp luật Việt Nam cho phép. Luật Đất đai năm 1987 quy định “nghiêm cấm việc mua bán đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức” [26, Điều 5], theo Luật này, ngƣời sử dụng đất chỉ có ba quyền cơ bản, đó là quyền sử dụng, quyền cho thuê và quyền thừa kế. Đến Luật Đất đai năm 1993 khẳng định ngƣời sử dụng đất có 5 quyền và thừa nhận đất đai có giá “Nhà nước định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao hoặc cho thuê đất …” [27, Điều 12].
Luật Đất đai năm 2003 mở rộng và xác lập 10 quyền của ngƣời sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục duy trì chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và tiếp tục mở rộng thêm các quyền của ngƣời sử dụng đất theo hƣớng phân loại nhóm quyền chung và quyền giao dịch cụ thể đối với đất đai.