Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở CHO CÁ NHÂN, HỘ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất” [30, tr. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành theo một mẫu thống nhất và được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với mỗi loại đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận gồm một tờ có 04 trang, in nền hoa văn trống đồng màu hồng cánh sen (được gọi là phôi Giấy chứng nhận) và trang bổ sung nền trắng; mỗi trang có kích thước 190mm x 265mm [1, tr.
Tất cả mọi người SDĐ đều muốn có giấy tờ hợp pháp để thực hiện các giao dịch về QSDĐ một cách đúng pháp luật. Tuy nhiên, thói quen của người dân mang tính tập quán khi thực hiện các giao dịch về QSDĐ, người SDĐ đã không tuân thủ quy định của pháp luật. Điều này làm cho quá trình quản lý đất đai của Nhà nước thêm phần khó khăn và quyền của các bên tham gia giao dịch về QSDĐ cũng không được đảm bảo. Lúc này, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận (GCN) là chứng thư pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất để họ yên tâm đầu tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thực hiện các quyền, nghĩa vụ sử dụng đất theo pháp luật.
GCN có vai trò rất quan trọng, nó là các căn cứ để xây dựng các quy định về đăng ký, theo dõi biến động đất đai, kiểm soát giao dịch dân sự về đất đai, các thẩm quyền và trình tự giải quyết các tranh chấp đất đai, xác định nghĩa vụ về tài chính của người sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về đất đai khi bị Nhà nước thu hồi đất, xử lý vi phạm về đất đai. 8 Theo tác giả, nếu xem xét khái niệm GCNQSDĐ theo nghĩa hẹp thì GCN quyền sở hữu hay QSDĐ một mặt là biểu hiện sự công nhận của Nhà nước, đồng thời là một sản phẩm của hệ thống đăng ký đất đai. Nếu xem xét GCNQSDĐ theo nghĩa rộng thì GCNQSDĐ không chỉ là việc ký trao GCN mà chính là quá trình tổ chức triển khai trong thực tế các trình tự, thủ tục nhất định; do những nhân viên của CQNN có thẩm quyền tiến hành, kết hợp với sự hợp tác của chủ thể SDĐ. Việc cấp GCNQSDĐ phức tạp hay thuận lợi phụ thuộc vào các điều kiện công nhận mà pháp luật quy định.
Các quy định pháp luật càng thống nhất, rõ ràng, công bằng và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; trình độ, năng lực quản lý của cán bộ và các công cụ hỗ trợ phù hợp thì việc cấp GCNQSDĐ sẽ thuận lợi hoặc ngược lại. Việc thiết kế các tiêu chí và các yêu cầu của các thông số thể hiện trong mẫu GCNQSDĐ cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của QSDĐ được công nhận. Cụ thể nếu trên GCNQSDĐ có quá nhiều sự ghi chú, ràng buộc hoặc các thông tin trên GCN không chính xác thì giá trị pháp lý không cao, vấn đề này liên quan đến việc lựa chọn phương án khi ban hành mẫu GCNQSDĐ. Cấp GCNQSDĐ là một lĩnh vực tổng hợp đòi hỏi giải quyết bốn yêu cầu: Tính pháp lý; tính kỹ thuật; tính kinh tế và tính xã hội.
Về tính pháp lý: Thể hiện thông qua các điều kiện pháp lý của sự công nhận và GCN được cấp ra có xác lập mối quan hệ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của chủ thể có QSDĐ với Nhà nước. Về tính kỹ thuật: Thể hiện thông qua các yếu tố toán học, trắc địa, bản đồ, họa đồ nhằm phản ánh đối tượng về vị trí hiện trạng tại thời điểm cấp GCN. Mức độ thể hiện những yếu tố kỹ thuật nhiều hay ít, độ chính xác cao hay thấp tùy thuộc chủ yếu vào năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ những người thực hiện nhiệm vụ này hoặc phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc. Về yếu tố kinh tế: Thể hiện bởi mục tiêu của sự công nhận, do đối tượng để cấp GCN là tài sản có giá trị nên người chủ tài sản có nhu cầu đảm bảo sự an toàn đối với tài sản của mình nên yêu cầu CQNN có thẩm quyền cấp GCN; về phía Nhà nước thông qua việc cấp GCN sẽ xác lập một cách đầy đủ nghĩa vụ tài chính mà chủ 9 thể SDĐ phải nộp.
Khi xem xét dưới góc độ tổ chức, thực hiện quá trình cấp GCNQSDĐ, yếu tố kinh tế phản ánh khá rõ nét thông qua các chi phí, vật chất cho quá trình này, kể cả về phía chủ thể SDĐ và về phía Nhà nước. Do đó, nếu hoạt động cấp GCNQSDĐ được triển khai khoa học, tổ chức tốt, thống nhất sẽ giảm chi phí cho người SDĐ và Nhà nước. Về yếu tố chính trị - xã hội: Thể hiện rõ nét chủ yếu trong giai đoạn cấp GCNQSDĐ ban đầu. Do giai đoạn này thiết lập cơ chế quản lý mới trong lĩnh vực đất đai, ý chí của Nhà nước thể hiện trong pháp luật là sự cởi mở hay nghiêm khắc thông qua các điều kiện để công nhận QSDĐ, kết quả cấp GCN sẽ góp phần quan trọng ổn định trật tự, an toàn xã hội và các chủ thể SDĐ sẽ phát huy hết khả năng đầu tư khai thác, SDĐ có hiệu quả mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, cho phát triển đất nước.
Tóm lại, khi giải quyết cấp GCNQSDĐ sự đảm bảo cân bằng, hợp lý các yếu tố trên sẽ tạo ra kết quả tốt, đáp ứng mục tiêu của công tác cấp GCNQSDĐ cho cả phía chủ thể SDĐ và cả Nhà nước. Thông qua việc cấp GCNQSDĐ, Nhà nước có thể quản lý đất đai trên toàn lãnh thổ, kiểm soát được các giao dịch trên thị trường bất động sản và thu được nguồn tài chính lớn cho ngân sách. Hơn nữa, nó là căn cứ để lập QH, KH đất đai là tiền đề trong việc phát triển KT – XH. Bằng việc cấp GCNQSDĐ thì người sử dụng đất hợp pháp có quyền lớn hơn đối với mảnh đất mình đang sử dụng.
Người sử dụng đất có các quyền sau: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế, và góp vốn…hoặc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Vai trò của việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất ở Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất ở là thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến người dân thông qua việc họ được hưởng những quyền lợi của người làm chủ và quyền lợi đó luôn được Nhà nước bảo vệ thông qua hệ thống pháp luật của Nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, sự quản lý của Nhà nước về đất ở là một hoạt động không thể thiếu vì đất ở là nhu cầu vật chất thiết yếu trong đời sống con người. Khi 10 dân số không ngừng tăng lên mà quỹ đất ở lại bị thu hẹp dần thì nhu cầu về đất ở của cá nhân, hộ gia đình ngày càng trở nên cấp thiết.
Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất ở cho cá nhân, hộ gia đình cũng trở nên cấp thiết và là một trong những nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai cần được đảm bảo thực hiện. Đặc biệt, hoạt động quản lý quỹ đất ở trên phạm vi cả nước chỉ đảm bảo thực hiện tốt khi hoạt động cấp GCNQSDĐ ở cho cá nhân, hộ gia đình được kiện toàn và tăng mức độ rõ ràng của các thông tin bằng việc làm tốt công tác đăng ký và cấp GCNQSDĐ. Có thể nói khung pháp lý về cấp Giấy chứng nhận QSD đất ở đã được xây dựng ngày càng hoàn thiện, đi đến điều chỉnh chi tiết và dần tháo gỡ các vướng mắc để đáp ứng mục tiêu quản lý Nhà nước và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền sử dụng đất ở. Hoạt động cấp GCNQSDĐ ở có vai trò hết sức quan trọng đối với cả Nhà nước và người sử dụng đất ở.
Về phía Nhà nước, việc cấp GCNQSDĐ nói chung và cấp GCNQSDĐ ở nói riêng là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 2013 [30, tr. Hoạt động cấp GCNQSDĐ ở không đơn thuần là thủ tục ban hành quyết định hành chính xác nhận QSDĐ hợp pháp cho người có quyền sử dụng đất mà hoạt động cấp GCNQSDĐ ở còn là quy trình thống nhất mang tính pháp lý – kỹ thuật. Khi cấp GCNQSDĐ ở, Nhà nước đã tập hợp đầy đủ thông tin thửa đất. Đây là điều kiện đảm bảo Nhà nước quản lý chặt chẽ quỹ đất, đảm bảo việc sử dụng quỹ đất hiệu quả, tiết kiệm; đảm bảo quyền, lợi ích của người sử dụng đất và kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình quản lý đất đai.
Kết quả cấp GCN là tài liệu phục vụ việc đánh giá tính hợp lý của hệ thống chính sách pháp luật Đất đai, hiệu quả trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Như vậy, qua hoạt động cấp GCNQSDĐ ở, Nhà nước có căn cứ pháp lý thực hiện nhiều nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Đầu tiên, đảm bảo nội dung đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ ở. Sau đó, có cơ sở để xây dựng hệ thống thông tin đất đai; quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
11 Ngoài ra, cấp GCNQSDĐ ở sẽ tạo thuận lợi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về Đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về Đất đai. Không những thế, tiến độ cấp và mức độ hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ cho người SDĐ chứng tỏ khả năng của Nhà nước trong việc quản lý tài sản đất đai thuộc sở hữu của mình, giúp Nhà nước kiểm soát tình hình đất đai một cách thuận tiện [22, tr.