Luận văn Nông Thảo Vy 2022: Canxi, phospho và PTH máu ở bệnh nhân CKD tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Nồng độ canxi, phospho, hormon parathyroid máu bệnh nhân thận mạn nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên 2022, phân tích liên hệ với GFR, huyết áp và yếu

Trường đại học

Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nội khoa

Tác giả

Nông Thảo Vy

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn bác sĩ nội trú

2022

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan canxi phospho PTH máu ở bệnh nhân CKD Thái Nguyên

Bệnh thận mạn gây suy giảm chức năng bài tiết và chuyển hóa nội tiết tố. Tình trạng này kích hoạt rối loạn chuyển hóa khoáng xương nghiêm trọng. Ba yếu tố canxi, phospho và hormon tuyến cận giáp PTH gắn liền với tiến triển bệnh. Nghiên cứu năm 2022 tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên khảo sát 96 bệnh nhân nội trú. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối rất cao. Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 57,32 tuổi. Nhóm người cao tuổi từ 60 trở lên chiếm tới 49%. Bệnh nhân nam chiếm ưu thế với 60,42%, trong khi nữ giới chiếm 39,58%. Đa số bệnh nhân thuộc các dân tộc Kinh, Tày và Nùng tại vùng trung du miền núi phía Bắc. Khi mức lọc cầu thận giảm sút, cơ thể mất khả năng duy trì hằng định nội môi. Nồng độ canxi máu có xu hướng giảm nhanh. Ngược lại, nồng độ phospho bắt đầu ứ đọng và gia tăng rõ rệt. Tuyến cận giáp phản ứng lại bằng cách tăng cường tổng hợp PTH. Vòng xoắn bệnh lý này gây tổn thương mô xương và hệ tim mạch. Việc theo dõi chặt chẽ ba chỉ số giúp phát hiện sớm biến chứng CKD-MBD.

1.1. Đặc điểm nhân khẩu học và giai đoạn bệnh thận mạn

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên ghi nhận cơ cấu bệnh nhân đặc thù. Độ tuổi mắc bệnh trải dài từ 20 đến trên 60 tuổi. Trong đó, nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất với 49%. Tỷ lệ bệnh nhân nam là 60,42%, cao hơn hẳn so với nữ giới là 39,58%. Về dân tộc học, người Kinh chiếm 64,5%, người Tày chiếm 19,4% và người Nùng chiếm 5,4%. Chỉ số khối cơ thể BMI phần lớn nằm ở mức bình thường với 65,6%. Đặc biệt, phân bố bệnh theo giai đoạn cho thấy sự tập trung áp đảo ở giai đoạn 5, chiếm đúng 75%. Giai đoạn 4 và giai đoạn 3b đều chỉ chiếm 7,29%. Giai đoạn 1 và 2 có tỷ lệ rất thấp.

1.2. Mối quan hệ sinh lý bệnh giữa canxi phospho và PTH

Thận đóng vai trò điều hòa cân bằng nội môi canxi và phospho trong máu. Khi nhu mô thận tổn thương, khả năng bài tiết phospho qua nước tiểu giảm sút. Hậu quả trực tiếp là nồng độ phospho huyết thanh tăng dần. Đồng thời, thận giảm sản xuất enzym 1-alpha-hydroxylase làm thiếu hụt calcitriol hoạt tính. Ruột giảm hấp thu canxi dẫn đến hạ canxi máu. Nồng độ canxi giảm cùng với phospho tăng kích hoạt thụ thể bề mặt CaSR. Tuyến cận giáp phản ứng bằng việc tăng sinh tế bào và bài tiết hormon PTH. PTH kích thích giải phóng canxi từ xương vào máu để bù trừ. Tình trạng này kéo dài gây ra bệnh lý xương thứ phát và vôi hóa mạch máu.

II. Thực trạng canxi phospho PTH ở bệnh nhân CKD tại Thái Nguyên

Rối loạn chuyển hóa chất khoáng xuất hiện phổ biến ở bệnh nhân CKD điều trị nội trú. Tỷ lệ rối loạn tăng vọt theo mức độ suy thoái của chức năng lọc cầu thận. Tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, đa số bệnh nhân nhập viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Nồng độ canxi máu toàn phần có xu hướng hạ thấp đáng kể. Tình trạng tăng phospho máu diễn biến trầm trọng do khả năng lọc bị suy kiệt. Nồng độ hormon PTH trong huyết thanh tăng vọt phản ánh tình trạng cường cận giáp thứ phát rõ rệt. Khi tích số canxi và phospho vượt ngưỡng an toàn, nguy cơ biến chứng tim mạch tăng vọt. Sự gia tăng PTH thúc đẩy tiêu xương liên tục. Hậu quả là xương mất dần mật độ khoáng, giòn xốp và dễ gãy. Đồng thời, tinh thể canxi phosphat bắt đầu lắng đọng tại thành mạch máu và các mô mềm. Vôi hóa hệ động mạch gây xơ cứng mạch và tăng huyết áp kháng trị. Nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở nhóm bệnh nhân này cao gấp nhiều lần người bình thường. Tình trạng suy dinh dưỡng và viêm mạn tính càng làm trầm trọng thêm các rối loạn chuyển hóa trên.

2.1. Biến chứng cường tuyến cận giáp thứ phát và tổn thương xương

Cường cận giáp thứ phát là hệ quả trực tiếp từ hạ canxi và tăng phospho kéo dài. Tuyến cận giáp bị kích thích liên tục dẫn đến phì đại mô tuyến. Nồng độ hormon PTH tăng cao thúc đẩy các hủy cốt bào phá hủy cấu trúc xương. Quá trình giải phóng khoáng chất khiến xương giảm mật độ và trở nên yếu ớt. Bệnh nhân thường xuyên chịu đựng những cơn đau xương khớp âm ỉ kéo dài. Các vị trí xương xốp như cột sống, xương chậu và xương đùi rất dễ biến dạng hoặc gãy tự nhiên. Ngoài ra, loạn dưỡng xương do thận còn làm giảm khả năng vận động của người bệnh. Tình trạng này làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống hàng ngày.

2.2. Nguy cơ vôi hóa mạch máu do tăng tích số canxi và phospho

Tích số canxi nhân phospho (Ca x P) là chỉ số tiên lượng biến chứng tim mạch sống còn. Ngưỡng bình thường của tích số này nằm dưới mức 4,8 mmol2/l2 (60 mg2/dl2). Khi tích số vượt quá 4,4 mmol2/l2 (55 mg2/dl2), phản ứng kết tủa tinh thể bắt đầu diễn ra. Phức hợp canxi phosphat lắng đọng trực tiếp vào lớp nội mạc và trung mạc động mạch. Sự vôi hóa này làm xơ cứng thành mạch, giảm độ đàn hồi và tăng áp lực mạch máu. Tim phải làm việc quá tải dẫn đến phì đại thất trái và thiếu máu cục bộ cơ tim. Tích số Ca x P tăng cao còn kích thích tuyến cận giáp tăng bài tiết PTH theo nghiên cứu lâm sàng. Biến chứng vôi hóa mạch máu chính là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở bệnh nhân suy thận mạn.

III. Giải pháp kiểm soát canxi phospho PTH máu cho bệnh nhân CKD

Kiểm soát ổn định bộ ba canxi, phospho và PTH đòi hỏi chiến lược điều trị toàn diện. Phác đồ kết hợp giữa chế độ dinh dưỡng nghiêm ngặt, can thiệp dùng thuốc và lọc máu chu kỳ. Mục tiêu tiên quyết là đưa nồng độ canxi và phospho máu về phạm vi sinh lý an toàn. Tích số Ca x P bắt buộc phải duy trì dưới mức 55 mg2/dl2 (4,4 mmol2/l2). Bác sĩ cần điều chỉnh liều lượng thuốc gắn phospho phù hợp với từng bữa ăn của bệnh nhân. Các hợp chất gắn phospho không chứa canxi thường được ưu tiên nhằm giảm nguy cơ tích tụ khoáng chất. Việc bổ sung vitamin D hoạt tính hoặc chất chủ vận thụ thể vitamin D giúp ức chế sản xuất PTH dư thừa. Đối với bệnh nhân giai đoạn 5, tối ưu hóa thông số lọc máu đóng vai trò quyết định. Tăng cường thời gian lọc và sử dụng quả lọc màng lưu lượng cao giúp loại bỏ phospho vượt trội. Song song đó, công tác xét nghiệm định kỳ cần được thực hiện thường xuyên. Định lượng canxi và phospho hàng tháng giúp bác sĩ điều chỉnh phác đồ kịp thời. Sự phối hợp đồng bộ này bảo vệ hệ mạch máu và phòng ngừa tàn phế xương khớp.

3.1. Chế độ ăn giảm phospho và sử dụng thuốc gắn phospho

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò nền tảng trong kiểm soát phospho huyết thanh. Bệnh nhân cần hạn chế nghiêm ngặt thực phẩm giàu phospho hữu cơ như phủ tạng động vật, các loại hạt và lòng đỏ trứng. Đồng thời, người bệnh phải kiêng tuyệt đối phospho vô cơ từ thực phẩm chế biến sẵn và đồ uống đóng hộp. Khi ăn uống không đủ để kiểm soát phospho máu, bác sĩ sẽ chỉ định thuốc gắn phospho. Thuốc gắn phospho gốc canxi như canxi carbonat hoặc canxi acetat được dùng trực tiếp trong bữa ăn. Tuy nhiên, thuốc gắn phospho không chứa canxi như sevelamer hoặc lanthanum carbonat mang lại độ an toàn cao hơn cho tim mạch. Lựa chọn thuốc phù hợp giúp ngăn chặn biến chứng vôi hóa mô mềm.

3.2. Liệu pháp điều hòa PTH bằng vitamin D và chất tương tự

Điều trị tăng PTH thứ phát đòi hỏi kiểm soát chọn lọc hoạt động tuyến cận giáp. Dạng hoạt tính của vitamin D như calcitriol hoặc paricalcitol tác động trực tiếp lên thụ thể vitamin D. Liệu pháp này giúp ức chế quá trình phiên mã và giải phóng hormon PTH vào máu. Ngoài ra, nhóm thuốc kích thích thụ thể cảm nhận canxi như cinacalcet mang lại hiệu quả vượt trội. Thuốc làm tăng tính nhạy cảm của thụ thể CaSR với nồng độ canxi ngoại bào. Nhờ đó, tuyến cận giáp lập tức giảm tiết PTH mà không làm tăng canxi hoặc phospho máu. Trường hợp bệnh nhân kháng điều trị nội khoa hoặc tuyến cận giáp phì đại quá mức, phẫu thuật cắt tuyến cận giáp bán phần sẽ được cân nhắc thực hiện.

IV. Kết luận về nồng độ canxi phospho PTH ở bệnh nhân CKD 2022

Nghiên cứu về nồng độ canxi, phospho và PTH ở bệnh nhân CKD tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2022 mang giá trị thực tiễn to lớn. Kết quả nghiên cứu khẳng định mối liên quan mật thiết giữa suy giảm chức năng thận và rối loạn khoáng xương. Đa số bệnh nhân nhập viện ở giai đoạn 5 với tỷ lệ biến chứng sinh hóa rất cao. Việc theo dõi nồng độ canxi, phospho và PTH cần được thực hiện thường xuyên theo khuyến cáo của Bộ Y tế và KDIGO. Bệnh nhân giai đoạn 3 và 4 cần được xét nghiệm định kỳ mỗi 3 đến 12 tháng. Riêng bệnh nhân giai đoạn 5 đòi hỏi xét nghiệm canxi, phospho hàng tháng và đo PTH mỗi 3 tháng. Các cơ sở y tế tuyến tỉnh cần hoàn thiện quy trình xét nghiệm đồng bộ các chỉ số trên. Bác sĩ lâm sàng cần cá thể hóa mục tiêu điều trị dựa trên từng giai đoạn bệnh. Phát hiện sớm các bất thường giúp can thiệp dinh dưỡng và thuốc kịp thời. Chiến lược này giúp hạn chế tối đa nguy cơ gãy xương và biến cố tim mạch. Nâng cao chất lượng quản lý bệnh nhân CKD giúp kéo dài tuổi thọ và giảm tải gánh nặng y tế cộng đồng.

4.1. Khuyến cáo theo dõi định kỳ các chỉ số sinh hóa máu

Hướng dẫn của Bộ Y tế quy định chặt chẽ tần suất xét nghiệm cho từng nhóm bệnh nhân CKD. Đối với bệnh thận mạn giai đoạn 3, định lượng canxi và phospho nên thực hiện mỗi 12 tháng. Bệnh nhân giai đoạn 4 cần xét nghiệm hai chỉ số này định kỳ 3 tháng một lần. Riêng với bệnh nhân giai đoạn 5, xét nghiệm canxi và phospho phải tiến hành hàng tháng. Nồng độ hormon PTH cần kiểm tra mỗi 6 đến 12 tháng ở giai đoạn 4 và mỗi 3 đến 6 tháng ở giai đoạn 5. Bác sĩ căn cứ vào diễn biến lâm sàng để tăng tần suất theo dõi khi có biến động bất thường. Việc tuân thủ lịch xét nghiệm giúp phát hiện biến chứng từ giai đoạn tiềm ẩn.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hành lâm sàng tuyến tỉnh

Dữ liệu từ Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2022 đặt ra yêu cầu cải thiện phác đồ quản lý CKD. Bác sĩ lâm sàng cần chú trọng kiểm soát tích số Ca x P dưới ngưỡng 4,4 mmol2/l2. Cơ sở y tế cần chuẩn hóa quy trình tư vấn dinh dưỡng hạn chế phospho cho người bệnh nội trú. Đội ngũ điều dưỡng cần hướng dẫn chi tiết cách dùng thuốc gắn phospho ngay trong bữa ăn để đạt hiệu quả cao nhất. Việc xét nghiệm PTH thường quy hỗ trợ bác sĩ kê đơn vitamin D hoạt tính chính xác và an toàn. Tăng cường phối hợp giữa khoa Thận và khoa Dinh dưỡng giúp tối ưu hóa kết quả điều trị. Nỗ lực này góp phần giảm thiểu biến chứng tim mạch và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân thận.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/10/2026
Nồng độ calci phospho hormon parathyroid máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn điều trị nội trú tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái quát về calci, phospho, hormon parathyroid 1. Calci Calci là cation phổ biến nhất trong cơ thể. Calci được tìm thấy trong 3 nơi chính: Xương (99%), mô mềm (1%), dịch ngoại bào (< 0,2%).

Calci được hấp thu qua ruột non, dự trữ tại xương và đào thải qua thận [24]. Tổng nồng độ calci trong huyết thanh bao gồm 3 phần: Khoảng 15% liên kết với nhiều anion hữu cơ và vô cơ như sulfat, phosphat, lactat và citrat; khoảng 40% liên kết với protein, chủ yếu là albumin; 45% còn lại lưu hành dưới dạng calci ion. Calci tự do (calci ion) là dạng hoạt động sinh lý của calci, được điều hòa chặt chẽ bởi PTH và vitamin D nên được coi là chất chỉ điểm tốt nhất của tình trạng calci của cơ thể [30]. Nồng độ calci ion máu trung bình là 1,25 ± 0,07 mmol/l, và tổng nồng độ calci trong huyết thanh nằm trong khoảng 8,5 - 10,5 mg/dl [72].

Do calci gắn vào vị trí điện tích âm của protein nên quá trình gắn này phụ thuộc vào pH của huyết tương. Kiềm hóa làm protein tăng điện tích âm, calci sẽ gắn vào nhiều hơn nên làm giảm calci tự do trong máu; toan hóa sẽ gây hậu quả ngược lại [30]. Nồng độ pH cứ thay đổi 0,1 đơn vị thì xấp xỉ có sự thay đổi đảo ngược 0,05 mmol/l calci tự do [24]. Ở những bệnh nhân có thay đổi nồng độ albumin có thể thấy sự thay đổi nồng độ calci toàn phần trong máu, nhưng nồng độ calci ion lại bình thường, gây ra tình trạng rối loạn cân bằng nội môi calci giả tạo.

Nghiên cứu của Smith J. chỉ ra rằng so với calci ion, calci hiệu chỉnh không đáng tin cậy để phân loại tình trạng calci trên bệnh nhân [75]. Trên đường tiêu hóa, calci chỉ được hấp thu một phần ở ruột nhờ vai trò của vitamin D; một số muối calci không hòa tan (như calci phosphat, calci oxalat) không được hấp thu. 4 Hầu hết calci trong cơ thể tồn tại trong xương dưới dạng hydroxyapatite [Ca10(PO4)6(OH)2].

Cân bằng nội môi calci phụ thuộc một phần vào dự trữ calci trong xương, gián tiếp thông qua quá trình tạo xương và hủy xương, được điều hòa bởi nhiều hormone và protein, bao gồm PTH và calcitriol [43]. Thận là nơi đào thải calci trong máu và cũng là cơ quan điều hòa chính của cân bằng nội môi calci. Mỗi ngày có khoảng 10.000 mg calci được lọc ở cầu thận và đến khoảng 98% được tái hấp thu dọc theo nephron ở ống lượn gần, nhánh lên của quai Henle, ống lượn xa; không có quá trình tái hấp thu diễn ra tại ống góp. Do đó nồng độ calci ở đoạn này phụ thuộc vào lượng calci còn lại trong nước tiểu, phụ thuộc vào khả năng chống lại sự kết tủa bằng cách pha loãng và acid hóa nước tiểu cuối.

Cuối cùng chỉ còn vài trăm mg calci được đào thải qua nước tiểu [64], [72].1: Quá trình tái hấp thu calci ở ống thận Nguồn: Moor M. (2016) [64] Sự cân bằng nồng độ calci giữa ruột non (nơi hấp thụ), xương (nơi dự trữ chính) và thận (nơi đào thải chính) được kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ chế vận chuyển, hormone, và các cơ chế điều hòa ngược. Calci là một ion phản ứng mạnh, luôn có có xu hướng kết tủa trong chất lỏng và mô. Với nồng độ 5 calci trong máu khoảng 2,4 mmol/l (hoặc trong nước tiểu là 3mmol/l), và phospho máu khoảng 1 mmol/l (hoặc 10mmol/l trong nước tiểu), quá trình kết tủa sẽ xảy ra tự nhiên nếu không có mặt các chất ức chế quá trình calci hóa như magie, osteoprotegerin,…[64] Calci nội bào có vai trò quyết định trong nhiều chức năng sinh lý: co cơ, bài tiết hormon, chuyển hóa glycogen và phân chia tế bào.

Calci ngoại bào duy trì tính ổn định của calci nội bào, quá trình khoáng hóa xương, đông máu và điện thế màng. Giảm nồng độ calci tự do gây ra tăng kích thích thần kinh cơ và co giật [24]. Phospho Phospho phân bố rộng hơn calci và cũng phục vụ nhiều chức năng sinh học khác nhau. Trong khi hầu hết phospho ở dạng xương dưới dạng hydroxyapatite, 15% được phân phối giữa các vị trí ngoài xương như phosphoprotein, phospholipid và axit nucleic.

Trong huyết tương bao gồm cả phosphat vô cơ và hữu cơ, nhưng trên lâm sàng ta chỉ định lượng phosphat vô cơ, tồn tại dưới dạng H2PO4- và HPO42-, với mức bình thường là 2,5 - 4,5 mg/100 ml [72]. Cân bằng phospho trong cơ thể phụ thuộc vào hai yếu tố: số lượng phospho trong cơ thể; phân bố phospho giữa dịch nội bào và dịch ngoại bào. Tổng lượng phospho trong cơ thể phụ thuộc vào việc hấp thu phospho của ruột và bài tiết phospho của thận [10]. Sự hấp thu phospho diễn ra ở ruột non và thông qua cả cơ chế phụ thuộc và không phụ thuộc calci, có thể chủ động hoặc thụ động, có sự điều chỉnh bởi các hormone calciotropic, đặc biệt là vitamin D làm tăng khả năng hấp thu, trong khi PTH và calcitonin chỉ ảnh hưởng một phần nhỏ [72].

Hầu hết lượng phospho đã lọc được tái hấp thu bởi ống lượn gần, còn lại khoảng 10 - 20% được bài tiết ra ngoài thông qua kênh protein đồng vận chuyển cùng chiều natri-phosphat, chủ yếu là NaPi-IIa và NaPi-IIc [43]. Yếu 6 tố tăng trưởng nguyên bào sợi 23 (Fibroblast Growth Factor 23 - FGF-23) thúc đẩy bài tiết phospho ở thận bằng cách làm giảm biểu hiện NaPi-IIa và NaPi-IIc, dẫn đến giảm tái hấp thu ở ống thận, dưới sự điều hòa của phospho máu và calcitriol [72]. Người ta cũng nhận thấy rằng PTH có thể làm giảm số lượng chất đồng vận chuyển này, từ đó gây tăng bài thiết phospho ở thận [41]. Phosphat vô cơ đóng vai trò quan trọng trong nâng đỡ cơ thể và cung cấp phosphat cho các khoang nội bào và ngoại bào.

Phosphat nội bào liên quan đến việc điều hòa chuyển hóa trung gian của protein, chất béo, carbohydrat, sao chép gen và sự phát triển của tế bào [24]. Parathyroid Hormon (PTH) PTH là một peptid gồm 84 acid amin được tiết ra bởi hai cặp tuyến cận giáp nằm liền kề với mặt sau của tuyến giáp. PTH được tổng hợp dưới dạng tiền chất pre-pro-PTH gồm 115 axit amin tại tuyến cận giáp, cùng với sự chuyển hóa và thanh thải ở gan thận, thành các mảnh tận cùng amino và carboxyl [24]. Các mảnh cacboxyl được đào thải bởi quá trình lọc ở cầu thận, do đó chúng tích tụ trong bệnh suy thận [72].

PTH điều chỉnh nồng độ calci và phospho trong huyết thanh thông qua các hoạt động trực tiếp trên xương và thận, hoạt động gián tiếp trên ruột. Tác động của PTH lên xương rất phức tạp. PTH liên kết với các thụ thể trên nguyên bào xương, làm tăng số lượng và hoạt động của hủy cốt bào, dẫn đến quá trình tiêu xương. Nồng độ PTH cao như trong cường cận giáp nguyên phát và thứ phát làm tăng quá trình hủy xương.

Khi nồng độ PTH thấp, nếu được bổ sung theo đợt có thể làm tăng tạo xương, hiện đã được áp dụng trong điều trị loãng xương [72]. Tín hiệu điều hòa chính cho sự bài tiết PTH là calci máu thông qua cơ chế điều hòa ngược âm tính của calci, calcitriol và điều hòa ngược dương tính của nồng độ phospho máu. Ngoài ra, FGF-23, magie cũng ảnh hưởng tới tổng hợp và bài tiết PTH [24]. Mối liên quan giữa calci, phospho, PTH Calci ion điều hòa cả quá trình giải phóng và quá trình tổng hợp, phân hủy nội tuyến của PTH ở tất cả các dạng phân tử của nó.

Calci điều hòa ngược quá trình phiên mã của gen PTH. Tuyến cận giáp cảm nhận nồng độ calci ion ngoại bào thông qua thụ thể cảm nhận calci (Ca2+ sensing receptor – CaSR) trên bề mặt tế bào. Khi có sự tăng nhẹ nồng độ calci máu, nhờ tác động của CaSR lên tuyến cận giáp và thận, phức hợp calci-CaSR làm ức chế bài tiết PTH và giảm tái hấp thu calci ở ống thận. Ngược lại, nồng độ calci ion máu giảm sẽ vô hiệu hóa thụ thể CaSR, kích thích bài tiết PTH và tăng cường tái hấp thu calci ở ống thận.

Ở người bình thường, nồng độ calci ion máu giảm 0,025 mmol/l cũng dẫn đến tăng nồng độ PTH huyết thanh trong vòng vài giây đến vài phút và ngược lại. Một số nhà nghiên cứu nhận thấy rằng ở bệnh nhân tăng sinh tuyến cận giáp sẽ làm giảm bộc lộ CaSR, dẫn đến giảm khả năng đáp ứng của nồng độ calci máu với việc bài tiết PTH, dù khi đó nồng độ calci máu bình thường hoặc cao. Cuối cùng trong một số trường hợp, tuyến cận giáp sẽ độc lập tiết PTH mà không liên quan đến nồng độ calci máu [62], [68]. Sự tăng giải phóng PTH làm tăng nồng độ calci máu về mức bình thường thông qua các hoạt động tại ruột, xương, thận.

PTH ít ảnh hưởng đến sự hấp thu calci, phospho ở ruột. Tuy nhiên, PTH có thể ảnh hưởng gián tiếp thông qua tác dụng kích thích sản xuất calcitriol ở thận, thúc đẩy sự hấp thu calci tại ruột non. Ở thận, PTH làm tăng tái hấp thu calci, ức chế tái hấp thu phospho ở ống thận, gây tăng calci máu và giảm phospho máu. Tại xương, PTH kích hoạt quá trình tiêu xương, làm giải phóng cả calci và phospho [62], [72].

Theo nghiên cứu của Châu Phú Thi, sau khi bệnh nhân cắt bỏ tuyến cận giáp, có 33,3% bệnh nhân xuất hiện giảm nồng độ calci so với ban đầu [18]. Tăng phospho máu cấp tính có thể làm giảm nồng độ calci ion bằng cách tạo liên kết với calci tự do trong máu. Đối với tăng phospho mạn tính có thể 8 gây cảm ứng hạ calci máu, giảm hoạt động của calcitriol, tăng biểu hiện gen PTH, từ đó gây tăng PTH. Sự gia tăng nồng độ PTH làm huy động calci từ xương và kích thích sản xuất calcitriol ở thận, từ đó làm tăng hấp thu calci ở ruột.

Giảm nhẹ calci ngay từ vài giây đến vài phút cũng có thể kích thích giải phóng PTH vào dịch ngoại bào. Như vậy, thay đổi nồng độ của calci có thể làm thay đổi phospho và ngược lại. Calci toàn phần trong huyết thanh cũng sẽ giảm trong thời gian ngắn khi phức hợp calci-phospho kết tủa và lắng đọng trong các mô mềm. Tuy nhiên, sự tăng nhẹ nồng độ phospho máu có thể không đủ để hạ nồng độ calci xuống đến mức kích thích bài tiết PTH [30].

Khi phospho tăng, cơ thể sẽ điều hòa bằng cách tăng PTH để làm giảm tái hấp thu phospho ở ống lượn gần. Nếu hạn chế được lượng phospho ăn vào có thể ngăn được sự tăng PTH. Tăng phospho cũng có thể ức chế bài tiết PTH thông qua kích thích bài tiết FGF-23.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nông Thảo Vy (2022), Nồng độ calci, phospho, hormon parathyroid máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Nông, T. V. (2022). Nồng độ calci, phospho, hormon parathyroid máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên [Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/canxi-phospho-pth-mau-benh-nhan-ckd-benh-vien-trung-uong-thai-nguyen-2022/9387385457
IEEE
T. V. Nông, "Nồng độ calci, phospho, hormon parathyroid máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên," Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2022. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/canxi-phospho-pth-mau-benh-nhan-ckd-benh-vien-trung-uong-thai-nguyen-2022/9387385457

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác