Tổng quan luận án
Vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực công (KVC) là một trong những trọng tâm nghiên cứu kinh tế chính trị và quản lý công. Khu vực công đóng vai trò thiết yếu trong việc phục vụ lợi ích chung của cộng đồng và xã hội thông qua việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ công (HHC). Tuy nhiên, hoạt động của khu vực này thường bị đánh giá là kém hiệu quả do thiếu môi trường cạnh tranh, tồn tại độc quyền nhà nước và vấp phải các thất bại của bộ máy hành chính nhà nước, dẫn tới tình trạng lãng phí nguồn lực quốc gia. Trong khi lý luận và thực tiễn vận dụng cơ chế thị trường, đặc biệt là cạnh tranh vào KVC đã được triển khai và khẳng định hiệu quả tại nhiều quốc gia trên thế giới, thì tại Việt Nam, vấn đề này còn rất mới và chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, sâu rộng.
Khoảng trống nghiên cứu chính mà luận án chỉ ra là: trước thời điểm thực hiện đề tài, các viện nghiên cứu và trường đại học lớn tại Việt Nam (như Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế Việt Nam) hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và trực diện về bản chất của cạnh tranh đối với KVC trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là phác họa bức tranh toàn cảnh về cạnh tranh đối với KVC tại Việt Nam và luận giải hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện phúc lợi xã hội. Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Luận giải cơ sở lý luận về cạnh tranh đối với khu vực công.
- Giới thiệu những kinh nghiệm cần thiết về cạnh tranh đối với khu vực công ở một số nước trên thế giới làm cơ sở tham khảo cho Việt Nam.
- Phân tích thực trạng cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là "cạnh tranh đối với khu vực công" trong việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ công và một số loại hàng hóa, dịch vụ tư. Nội hàm nghiên cứu không chỉ giới hạn ở sự cạnh tranh giữa các chủ thể thuộc KVC với nhau (cạnh tranh nội bộ), mà còn mở rộng đến sự cạnh tranh giữa chủ thể công với chủ thể tư nhân, chủ thể liên doanh công - tư và các chủ thể kinh tế khác. Các minh họa và phân tích thực tiễn tập trung vào hai nhóm lĩnh vực chủ chốt: kết cấu hạ tầng công ích (điện lực, bưu chính viễn thông, giao thông) và hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục).
Phạm vi không gian tập trung chủ yếu vào thực tiễn Việt Nam, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại 5 quốc gia tiêu biểu: Vương quốc Anh, Australia, New Zealand, Trung Quốc và Singapore. Phạm vi thời gian nghiên cứu tại Việt Nam tập trung vào giai đoạn sau Đổi mới (từ năm 1986 đến thời điểm hoàn thành luận án năm 2007), có liên hệ so sánh với giai đoạn trước Đổi mới. Đối với kinh nghiệm quốc tế, phạm vi khảo sát bao quát từ đầu thập niên 1980 trở đi.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành hai nhóm chính: nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước.
Về nghiên cứu quốc tế, tác giả khảo cứu các công trình lý thuyết và thực nghiệm điển hình:
- Lý thuyết thất bại thị trường và thất bại nhà nước: Joe Wallis và Brian Dollery trong công trình Market failure, government failure, leadership and public policy đã hệ thống hóa các lý thuyết về thất bại thị trường và chỉ ra các dạng thất bại nhà nước (thất bại lập pháp, hành chính, tư pháp, hành pháp, chính trị) cùng sự thiếu vắng áp lực cạnh tranh dẫn đến phi hiệu quả trong KVC. Charles Wolf trong tác phẩm Market or Government: choosing between imperfect alternatives luận giải rằng cả việc lạm dụng thị trường lẫn sự can thiệp quá mức của nhà nước đều gây ra những méo mó nhất định; việc vận dụng cơ chế thị trường giúp KVC linh hoạt và đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng tốt hơn.
- Lý thuyết tái cấu trúc nhà nước và quản trị công: David Osborne và Ted Gaebler với cuốn sách Reinventing government: how the entrepreneurial spirit is transforming the public sector (Sáng tạo lại chính phủ) đề xuất đưa tinh thần kinh doanh vào KVC, chuyển từ mô hình quan liêu sang cơ chế thị trường để đạt mục tiêu công thông qua cạnh tranh có kiểm soát. Báo cáo World Development Report 1997: The State in a changing world của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh sự thay đổi vai trò của nhà nước và yêu cầu cải cách cung ứng dịch vụ công dựa trên cơ chế thị trường và sự tham gia của khu vực tư nhân. Nhóm tác giả công trình Phục vụ và duy trì: giới thiệu hành chính công trong một thế giới cạnh tranh phân tích cơ chế cạnh tranh trong mua sắm công gắn với tiêu chuẩn "bốn chữ E" (Economy - Kinh tế, Efficiency - Hiệu quả, Effectiveness - Hiệu lực, Equity - Công bằng).
- Thực nghiệm cải cách KVC quốc tế: Jan-Erik Lane trong Public Sector Reform: rationale, trends and problems tổng kết xu hướng mở rộng cạnh tranh tại Australia, New Zealand, Đức, Canada, Anh. Janet Tay nghiên cứu cải cách dịch vụ công tại Singapore (Public service reforms in Singapore). Kai Hong Phua phân tích tài chính y tế và sự kết hợp công - tư tại Singapore (Health care financing options: lessons and innovations from the Singapore system). Xu Songtao (China's Public Administration Reform: New Approaches) và Mok K.H. (Merging of the Public and Private Boundary: Education and the Market place in China) phân tích cải cách hành chính, dịch vụ xã hội và giáo dục định hướng thị trường tại Trung Quốc.
Về nghiên cứu trong nước, tác giả rà soát danh mục luận án tại Đại học Kinh tế Quốc dân (hơn 660 luận án tiến sĩ và 1.300 luận văn thạc sĩ tính đến thời điểm đó) và Đại học Kinh tế (ĐHQGHN), nhận thấy chỉ có một số đề tài nghiên cứu cạnh tranh trong từng ngành hẹp hoặc vai trò điều tiết chung của nhà nước, chưa có công trình chuyên sâu về cạnh tranh đối với KVC. Một số tài liệu liên quan gồm: các ấn phẩm dịch thuật của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), kết quả dự án VIE 01/025 "Nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia" (2003), và Báo cáo phát triển Việt Nam 2005 của Ngân hàng Thế giới và UNDP đề xuất mở rộng cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu công.
Khoảng trống luận án giải quyết là xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về cạnh tranh đối với KVC, phân tích thực trạng độc quyền và mức độ cạnh tranh trong các ngành công ích - xã hội tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và nguyên tắc vận dụng phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên 4 trụ cột lý thuyết và khái niệm căn bản:
- Bản chất của khu vực công và phân loại hàng hóa công: KVC được xác lập là tập hợp các cơ quan, tổ chức do nhà nước thành lập nhằm phục vụ lợi ích chung, hoạt động phi lợi nhuận và phân bổ nguồn lực dựa trên cơ chế phi thị trường. Dựa trên tính loại trừ (excludability) và tính tranh giành (rivalry), hàng hóa được phân chia thành: HHC thuần túy, HHT thuần túy, nguồn lực cộng đồng và hàng hóa độc quyền tự nhiên. Luận án kế thừa mô hình phân loại của N. Gregory Mankiw và Paul A. Samuelson / Joseph Stiglitz.
- Lý thuyết thất bại nhà nước (Government Failure): Phân tích 3 khiếm khuyết cơ bản khi nhà nước can thiệp: thất bại lập pháp (tối đa hóa cơ hội đắc cử của chính trị gia dẫn đến cung cấp quá mức hàng hóa công), thất bại hành chính quan liêu (công chức tìm cách tối đa hóa quy mô ngân sách để tăng quyền lực và thu nhập cá nhân mà không gắn với hiệu quả chi phí - đầu ra), và tệ nạn trục lợi (rent-seeking).
- Chủ nghĩa công quản mới (New Public Management - NPM): Đề cao việc đưa kỹ thuật quản lý của khu vực tư nhân vào KVC, phân định rõ chức năng hoạch định chính sách và chức năng cung ứng dịch vụ, áp dụng đấu thầu cạnh tranh, ký hợp đồng với bên ngoài (contracting out), và chuyển đổi sở hữu (tư nhân hóa, công ty hóa) để phá vỡ thế độc quyền.
- Lý thuyết lựa chọn công (Public Choice Theory) và Lý thuyết đại diện (Principal-Agent Theory): Ứng dụng giả định "người kinh tế" duy lý vào hành vi của cử tri, chính trị gia và công chức; thiết lập cơ chế kiểm soát hợp đồng nhằm giảm thiểu độ lệch mục tiêu giữa bên ủy quyền (nhà nước/người dân) và bên đại diện (đơn vị cung ứng/công chức).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự vận động của KVC trong tiến trình chuyển đổi kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu thực tế là nghiên cứu định tính kết hợp phân tích thứ cấp:
- Phân tích văn bản và phân tích thể chế: Rà soát các quy định pháp luật, chính sách quản lý nhà nước về cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước và đấu thầu mua sắm công.
- Phương pháp lịch sử và so sánh: Đánh giá thực trạng KVC Việt Nam qua các giai đoạn (trước và sau Đổi mới 1986); so sánh đối chiếu kinh nghiệm cải cách KVC của 5 quốc gia (Anh, Australia, New Zealand, Trung Quốc, Singapore).
- Phương pháp tổng hợp, thống kê mô tả: Xử lý và trình bày số liệu thứ cấp về thị phần, cơ cấu đầu tư, mạng lưới cơ sở cung ứng, giá cước dịch vụ và kết quả đấu thầu trong các ngành: điện lực (EVN), bưu chính viễn thông (VNPT), hàng không (VNA), y tế và giáo dục.
Nguồn tư liệu bao gồm: các công trình khoa học quốc tế thu thập trong thời gian tác giả nghiên cứu tại Australia và Việt Nam; số liệu của Tổng cục Thống kê, Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, UNDP; báo cáo tổng kết của các bộ ngành và tập đoàn, tổng công ty nhà nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cạnh tranh đối với khu vực công
Chương 1 thiết lập nền tảng khái niệm, phân tích vai trò của nhà nước, sự cần thiết và các hình thức vận dụng cạnh tranh vào KVC.
Tác giả phân tích hai đặc tính phân biệt hàng hóa: tính loại trừ và tính tranh giành, qua đó làm rõ ranh giới tương đối giữa hàng hóa công và hàng hóa tư. Luận án trích dẫn bảng phân loại hàng hóa của N. Gregory Mankiw:
| Tính loại trừ |
Có tính tranh giành |
Không có tính tranh giành |
| Có |
Hàng hoá tư nhân thuần tuý - Kem - Quần áo - Những con đường đông đúc có thu phí |
Độc quyền tự nhiên - Phòng cháy - Truyền hình cáp - Những con đường thưa người có thu phí |
| Không |
Nguồn lực cộng đồng - Cá ở đại dương - Môi trường - Những con đường đông đúc không thu phí |
Hàng hoá công thuần tuý - Quốc phòng - Tri thức - Những con đường thưa người không thu phí |
Luận án làm rõ các chức năng của nhà nước theo Báo cáo Phát triển Thế giới 1997 của Ngân hàng Thế giới:
| Mức độ chức năng |
Khắc phục khuyết tật thị trường |
Cải thiện công bằng xã hội |
| Các chức năng tối thiểu |
Cung cấp hàng hoá công thuần tuý: quốc phòng, luật pháp và trật tự, quyền sở hữu tài sản, quản lý kinh tế vĩ mô, y tế cộng đồng. |
Bảo vệ người nghèo: chương trình chống đói nghèo, trợ cấp thiên tai. |
| Các chức năng trung gian |
Khắc phục ngoại ứng (giáo dục phổ thông, bảo vệ môi trường); Điều tiết độc quyền (điều tiết sử dụng hạ tầng, chính sách chống độc quyền); Khắc phục rủi ro (bảo hiểm nhân thọ, hưu trí, bảo vệ người tiêu dùng). |
Cung cấp bảo hiểm xã hội: phân bổ lại lương hưu, trợ cấp gia đình, bảo hiểm thất nghiệp. |
| Các chức năng tích cực |
Điều phối hoạt động tư nhân: phát triển thị trường, tập hợp sáng kiến. |
Phân phối lại tài sản. |
Chương này đi sâu chứng minh rằng KVC kém hiệu quả xuất phát từ sự thiếu vắng áp lực phá sản, tình trạng độc quyền nhà nước hợp pháp và hành vi tối đa hóa ngân sách của bộ máy quan liêu. Cạnh tranh đối với KVC mang 3 vai trò cốt lõi: tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực công, đa dạng hóa quyền lựa chọn cho người tiêu dùng và thay đổi hành vi ứng xử của bộ máy công quyền sang phong cách phục vụ định hướng khách hàng. Các kỹ thuật xúc tiến cạnh tranh gồm: cạnh tranh nội bộ, đấu thầu cạnh tranh mua sắm công, ký hợp đồng với bên ngoài, ủy quyền phân cấp và tư nhân hóa có kiểm soát.
Chương 2: Kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh đối với khu vực công ở một số nước
Chương 2 phân tích bài học cải cách KVC tại 5 quốc gia với các mô hình tiếp cận khác nhau:
- Vương quốc Anh: Đi đầu trong việc thể nghiệm chủ nghĩa công quản mới dưới thời Thủ tướng Margaret Thatcher thông qua việc tư nhân hóa ồ ạt các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và áp dụng cơ chế đấu thầu bắt buộc đối với dịch vụ công địa phương. Luận án chỉ ra các tác động tích cực về năng suất song cũng tổng hợp các tác động nghịch (Bảng 2.1) như nguy cơ giảm chất lượng dịch vụ ở một số lĩnh vực xã hội nếu thiếu giám sát.
- Australia: Xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc với Chính sách Cạnh tranh Quốc gia (National Competition Policy), áp dụng nguyên tắc trung lập cạnh tranh (competitive neutrality) giữa khu vực công và tư, đồng thời triển khai rộng rãi đấu thầu cạnh tranh (Bảng 2.2 cho thấy mức tiết kiệm chi phí rõ rệt nhưng Bảng 2.3 cũng nêu mặt trái về chi phí giao dịch hợp đồng).
- New Zealand: Triển khai mô hình KVC mới dựa trên nguyên tắc thương mại hóa, tách rời chức năng tư vấn chính sách, mua sắm và cung ứng dịch vụ; công ty hóa toàn diện các tài sản công thành các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp.
- Trung Quốc: Tái cơ cấu nhà nước trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; mở rộng cạnh tranh từng bước trong các dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế) và kết cấu hạ tầng công ích (viễn thông, giao thông, cấp nước) thông qua liên doanh công - tư và khuyến khích vốn tư nhân.
- Singapore: Cải cách hành chính công theo hướng tinh gọn, hiệu quả cao, áp dụng cơ chế thị trường và tự chủ tài chính linh hoạt trong lĩnh vực y tế thông qua sự kết hợp hài hòa giữa tài trợ công và trách nhiệm đồng chi trả của người dân.
Từ kinh nghiệm quốc tế, chương rút ra các bài học: cải cách cạnh tranh phải gắn liền với hoàn thiện khung khổ pháp lý, xác định rõ trách nhiệm công - tư, duy trì cơ quan điều tiết độc lập và áp dụng cạnh tranh có lộ trình kiểm soát chặt chẽ.
Chương 3: Thực trạng cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam
Chương 3 khảo sát thực trạng KVC Việt Nam từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung đến thời kỳ Đổi mới. Tác giả chỉ ra rằng trước Đổi mới, KVC chiếm lĩnh toàn bộ nền kinh tế trên cơ sở sở hữu toàn dân và tập thể, triệt tiêu hoàn toàn yếu tố cạnh tranh. Sau năm 1986, nền kinh tế nhiều thành phần hình thành, tuy nhiên KVC vẫn duy trì vị thế thống lĩnh và độc quyền nhà nước nặng nề trong các ngành then chốt:
- Thực trạng độc quyền nhà nước: Luận án dẫn chứng tình trạng độc quyền phân phối và phát điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN - Hình 3.3, 3.4); sự thống lĩnh thị trường dịch vụ bưu chính viễn thông của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT - Bảng 3.3, 3.4, Hình 3.5) trước khi có sự tham gia của Viettel và các nhà mạng mới; sự độc quyền trong vận tải hàng không của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA) và vận tải đường sắt (Bảng 3.2).
- Cạnh tranh nội bộ và cạnh tranh công - tư: Trong lĩnh vực hạ tầng xã hội, chính sách xã hội hóa đã mở đường cho sự xuất hiện của các bệnh viện tư nhân, trường học ngoài công lập (Bảng 3.5 đến 3.10, Hình 3.6). Mặc dù cơ sở y tế và giáo dục tư nhân phát triển nhanh, chất lượng dịch vụ có cải thiện nhưng quy mô vẫn còn nhỏ bé so với hệ thống công lập. Lĩnh vực chuyển phát và vận tải hành khách ghi nhận mức độ cạnh tranh tư nhân sôi động nhất (Bảng 3.1, 3.11, 3.12, Hình 3.7, 3.8).
- Những yếu tố gây trở ngại cho cạnh tranh: Sự phân biệt đối xử giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân (DNTN) trong tiếp cận đất đai, vốn tín dụng ngân hàng; sự chồng chéo giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các bộ ngành; hệ thống đấu thầu mua sắm công còn mang tính hình thức, chênh lệch sau đấu thầu chưa phản ánh đúng hiệu quả thực tế (Bảng 3.13); và sự thiếu vắng một cơ quan điều tiết cạnh tranh độc lập.
Chương 4: Những giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam
Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp có tính hệ thống nhằm đưa cơ chế cạnh tranh vào KVC Việt Nam.
Tác giả xác lập 4 nguyên tắc tiếp cận:
- Cạnh tranh nhằm nâng cao phúc lợi xã hội (không vì mục tiêu thuần lợi nhuận mà hy sinh lợi ích công cộng).
- Cạnh tranh có kiểm soát (nhà nước giám sát tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng dịch vụ và điều tiết giá cả).
- Cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể (xóa bỏ ưu đãi bất hợp lý đối với DNNN, tạo sân chơi công bằng cho KVT).
- Cạnh tranh phải phù hợp với những quy định và thông lệ quốc tế (đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO).
Hệ thống giải pháp cơ bản gồm 8 nhóm:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh: Triển khai thực thi nghiêm Luật Cạnh tranh, rà soát bãi bỏ các văn bản hành chính tạo rào cản gia nhập thị trường.
- Xử lý tình trạng độc quyền: Tách các khâu có tính chất độc quyền tự nhiên (như lưới truyền tải điện, mạng hạ tầng đường sắt) ra khỏi các khâu có thể cạnh tranh (phát điện, kinh doanh vận tải); thực hiện chia tách, tái cơ cấu các tổng công ty nhà nước lớn.
- Tạo tiền đề cho cạnh tranh: Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DNNN, xóa bỏ bao cấp vốn, phân định rành mạch chức năng quản lý nhà nước của các bộ với quyền quản trị kinh doanh của doanh nghiệp.
- Sử dụng các hình thức cạnh tranh với bên ngoài: Mở rộng đấu thầu cạnh tranh công khai trong mua sắm chính phủ và cung ứng dịch vụ công; áp dụng hình thức hợp đồng gia công, nhượng quyền khai thác tài sản công cho tư nhân.
- Cạnh tranh trực tiếp theo giá và chất lượng hàng hóa: Minh bạch hóa chi phí, xóa bỏ bù chéo giá; buộc các đơn vị công lập phải công khai chuẩn đầu ra dịch vụ để người dân lựa chọn.
- Thiết lập cơ quan điều tiết và giám sát cạnh tranh độc lập: Thành lập các cơ quan chuyên trách điều tiết theo ngành độc lập với các bộ chủ quản nhằm đảm bảo tính khách quan trong kiểm soát giá và hành vi phản cạnh tranh.
- Mở cửa khu vực công cho cạnh tranh quốc tế: Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia phát triển kết cấu hạ tầng thông qua các hình thức BOT, BTO, PPP theo cam kết hội nhập.
- Tuyên truyền và thuyết phục: Đổi mới nhận thức của cán bộ, công chức và cộng đồng xã hội về vai trò tích cực của cạnh tranh trong KVC.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:
Về lý luận:
- Hệ thống hóa và phát triển khung lý luận toàn diện về "cạnh tranh đối với khu vực công" trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp các lý thuyết kinh tế chính trị hiện đại (chủ nghĩa công quản mới, lý thuyết lựa chọn công, lý thuyết đại diện).
- Làm rõ bản chất, đặc điểm, hình thức và các kỹ thuật thúc đẩy cạnh tranh đối với KVC; chỉ rõ cạnh tranh trong KVC không chỉ là sự ganh đua giữa các thành phần kinh tế mà còn là công cụ điều tiết nhằm tối ưu hóa chi phí và phúc lợi công cộng.
Về thực tiễn:
- Phân tích bức tranh thực trạng KVC tại Việt Nam giai đoạn chuyển đổi, nhận diện các điểm nghẽn độc quyền nhà nước trong các ngành hạ tầng kỹ thuật (điện lực, viễn thông, hàng không) và hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục).
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế có tính chọn lọc từ các nước phát triển (Anh, Australia, New Zealand, Singapore) và nước chuyển đổi tương đồng (Trung Quốc).
- Đề xuất hệ thống 4 nguyên tắc và 8 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao hiệu quả quản trị và cung ứng dịch vụ công tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án sử dụng phương pháp định tính là chủ yếu, việc đánh giá hiệu quả kinh tế và mức độ tiết kiệm chi phí sau cải cách cạnh tranh dựa chủ yếu trên số liệu thứ cấp và các trường hợp điển hình, chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng định lượng hóa mức độ tác động của cạnh tranh đến phúc lợi xã hội tại Việt Nam. Phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong một số ngành hạ tầng công ích và dịch vụ xã hội trọng điểm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đi sâu lượng hóa tác động của cạnh tranh trong từng ngành dịch vụ công cụ thể; nghiên cứu cơ chế kiểm soát hợp đồng công - tư (PPP) và mô hình tổ chức chi tiết cho các cơ quan điều tiết ngành độc lập tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn:
- Đối với các nhà hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Cục Quản lý Cạnh tranh): cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chính sách tái cơ cấu DNNN, mở cửa thị trường dịch vụ công và hoàn thiện khung khổ pháp luật cạnh tranh.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế, Quản trị công: là tài liệu chuyên khảo tham khảo về việc vận dụng lý thuyết kinh tế thị trường, chủ nghĩa công quản mới và phân loại hàng hóa công trong quản trị nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "cạnh tranh đối với khu vực công" trong luận án được hiểu như thế nào?
Nội hàm khái niệm này chỉ sự ganh đua không chỉ giữa các chủ thể thuộc KVC với nhau (cạnh tranh nội bộ) mà còn giữa các chủ thể công với chủ thể tư nhân, chủ thể liên doanh công - tư và các tổ chức xã hội khác trong việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ công và một số hàng hóa tư. Mục đích là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công và chất lượng phục vụ xã hội.
2. Lý do căn bản nào khiến hoạt động của khu vực công thường kém hiệu quả?
Luận án chỉ ra ba nguyên nhân cốt lõi: (i) sự thiếu vắng môi trường cạnh tranh và tồn tại độc quyền hợp pháp khiến các đơn vị công không chịu áp lực phá sản hay đào thải thị trường; (ii) các thất bại nhà nước gồm thất bại lập pháp, thất bại của bộ máy hành chính quan liêu chạy theo tối đa hóa ngân sách; và (iii) cơ chế phân bổ nguồn lực phi thị trường làm mất liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá cả đầu ra.
3. "Cạnh tranh có kiểm soát" trong khu vực công là gì?
Theo luận án (dẫn giải quan điểm của Osborne và Gaebler), cạnh tranh có kiểm soát là cơ chế cạnh tranh được nhà nước điều tiết bằng luật lệ, quy chuẩn và cam kết rõ ràng, nhằm thúc đẩy sáng tạo và tiết kiệm chi phí nhưng không mang tính tàn phá, đảm bảo nhà nước vẫn giữ vững mục tiêu công bằng xã hội và người nghèo vẫn được tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu.
4. Luận án nghiên cứu kinh nghiệm cải cách khu vực công của những quốc gia nào?
Luận án khảo sát kinh nghiệm của 5 quốc gia: Vương quốc Anh (tư nhân hóa và công quản mới), Australia (chính sách cạnh tranh quốc gia và đấu thầu cạnh tranh), New Zealand (công ty hóa tài sản công), Trung Quốc (tái cơ cấu và xã hội hóa dịch vụ công trong nền kinh tế chuyển đổi) và Singapore (cải cách quản trị công và tài chính y tế).
5. Những ngành nào tại Việt Nam được luận án phân tích thực trạng độc quyền và cạnh tranh?
Luận án tập trung phân tích 5 lĩnh vực then chốt: ngành điện lực (EVN), bưu chính viễn thông (VNPT), giao thông vận tải (hàng không VNA, đường sắt, chuyển phát, vận tải hành khách), y tế (hệ thống bệnh viện công - tư) và giáo dục (đào tạo mầm non, cao đẳng và đại học).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Cạnh tranh đối với khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam" của tác giả Vũ Thanh Sơn đã luận giải một cách toàn diện cơ sở lý luận về vai trò của cạnh tranh trong việc khắc phục những thất bại của nhà nước và nâng cao hiệu quả KVC. Qua việc khảo cứu kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia phát triển và chuyển đổi, công trình đã làm rõ bức tranh thực trạng độc quyền nhà nước cũng như sự hình thành yếu tố cạnh tranh trong các ngành hạ tầng kinh tế - xã hội tại Việt Nam sau Đổi mới. Trên cơ sở đó, luận án xác lập hệ thống 4 nguyên tắc và 8 nhóm giải pháp đồng bộ, đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho tiến trình cải cách thể chế, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.