Chương 1: Những vấn đề lý luận về cạnh tranh đối với khu vực công Chương 2: Kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh đối với khu vực công ở một số nước Chương 3: Thực trạng cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam Chương 4: Những giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với khu vực công ở Việt Nam 11 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG 1. KHU VỰC CÔNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC 1. Khu vực công trong nền kinh tế Xét về nguồn gốc, sự phát triển của các tổ chức KVC phát triển mạnh vào những năm đầu thế kỷ XIX trong nhiều quốc gia [72, tr. Tác động của công nghiệp hoá và phát triển của đô thị làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội lớn như di chuyển dân cư, mở rộng và phát sinh ngành nghề, hoạt động từ thiện, chất lượng cuộc sống, v.
Những vấn đề xã hội này khiến cho nhà nước phải tham gia mạnh mẽ hơn để đối phó và giải quyết. Trong thời kỳ này, sự phát triển mạnh của kinh tế thị trường đã bộ lộ nhiều khiếm khuyết hay ngoại ứng tiêu cực ví như bất công, ô nhiễm môi trường và độc quyền. Do vậy, nhà nước lúc này không đơn thuần thể hiện vai trò của mình trong thu thuế hay cung cấp dịch vụ quốc phòng mà còn tích cực trong khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường. Để giải quyết những vấn đề này, nhà nước chi tiêu ngân sách của mình không chỉ đơn thuần như người tiêu dùng mà cả như người đầu tư.
Nhà nước cần phải triển khai những chính sách và cơ chế để thực hiện việc can thiệp của mình một cách hợp pháp và có hiệu lực trên quy mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Rõ ràng, sự phát triển của KVC gắn với vai trò quan trọng và to lớn của nhà nước trong việc khắc phục những khuyết tật thị trường và đáp ứng nhu cầu chung xã hội. Xét về cơ cấu tổ chức, KVC là tập hợp nhiều cơ quan và tổ chức tập thể nhằm phục vụ lợi ích chung của mọi thành viên xã hội [72, tr. Những hợp phần của KVC gồm các đặc trưng như sau: (i) những cơ quan và 12 z tổ chức này do nhà nước thành lập nhằm phục vụ lợi ích chung mà nhà nước theo đuổi và thông qua đó phục vụ công dân; (ii) mục tiêu và quy chế hoạt động của chúng là do nhà nước quyết định thông qua quy trình chính trị và hành chính; (iii) nguồn ngân sách đảm bảo hoạt động của các tổ chức này được phân bổ từ nguồn thu nhập thuế quốc gia và địa phương và chịu sự giám sát của nhà nước; (iv) nhà nước chịu trách nhiệm về những giao ước pháp lý cho các thực thể hợp phần của mình và nắm quyền kiểm soát pháp lý về những hoạt động của chúng.
Trong KVC, cơ chế phân bổ nguồn lực cơ bản là phi thị trường. Nói cách khác, khu vực công thực hiện phân bổ nguồn lực không tuân thủ quy luật thị trường. Ví dụ, việc triểnkhai các chương trình an ninh quốc phòng, cứu trợ xã hội, kết cấu hạ tầng quốc gia, v. sẽ không tuân thủ các quy luật thị trường và không thể phân phối như hàng hoá tiêu dùng tư nhân.
Việc cung cấp những loại hàng hoá này không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của khách hàng tiêu dùng, tức là giá cả không đưa ra tín hiệu đúng cho điều chỉnh mặt cung. Phần lớn loại hàng hoá do KVC cung ứng và sản xuất đều bảo đảm cho phép tất cả thành viên xã hội cùng sử dụng chung với nhau không cần phân chia khẩu phần, không phụ thuộc nhiều vào số lượng người tiêu dùng và khả năng tiêu dùng của người khác. Nói ngắn ngọn, những sản phẩm của KVC nhằm phục vụ lợi ích chung cho tất cả thành viên xã hội. Hoạt động của các tổ chức thuộc KVC phải tuân thủ quy tắc và quy định do nhà nước phê chuẩn.
Công việc/chương trình được phê duyệt thông qua một quy trình hành chính. Việc ra quyết định hay phủ quyết quyết định phải dựa vào cơ chế đại diện [52, tr. Người đại diện bỏ phiếu phê chuẩn ngân sách công và cơ quan hành pháp triển khai chi tiêu nguồn tiền này. Phân bổ ngân sách và hoạt động cung ứng/sản xuất được thể chế hóa bằng luật lệ hay quy định để bảo đảm việc cung ứng đầu ra một cách đầy đủ và đúng 13 z chủng loại cho những đối tượng hưởng lợi như đã cam kết.
Các nhóm dân cư hay nhóm lợi ích khác nhau sẽ được hưởng lợi hay chịu những tác động khác nhau trong từng quyết định của nhà nước thông việc thực thi chính sách/quy định của nhà nước như chính sách chi tiêu công, phúc lợi xã hội và nhiều chính sách khác. Căn cứ vào bản chất của mình, KVC chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ đa mục tiêu liên quan tới lợi ích kinh tế-xã hội chứ không phải theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cá nhân. Hoạt động của KVC hướng tới thỏa mãn lợi ích chung cho toàn bộ thành viên xã hội hay nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Việc phân phối công bằng thành quả và nguồn lực công là đòi hỏi quan trọng để bảo đảm sự duy trì hài hòa lợi ích và tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội.
Nhiều chương trình công được phê duyệt nhằm thoả mãn lợi ích của các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội. Việc đáp ứng nhu cầu khách hàng không phải vì lý do khả năng thanh toán mà do lý do phân phối vì lợi ích chung. Kinh phí hoạt động của các tổ chức công và đầu vào để đạt được các mục tiêu công ích đều do nhà nước tài trợ từ ngân sách quốc gia. Kế hoạch chi tiêu và quy trình phê duyệt do nhà nước giám sát theo một quy trình hành chính.
Trong lĩnh vực nhân sự cũng vậy, số lượng biên chế, việc bổ nhiệm hay bãi nhiệm nhân sự và chế độ thù lao buộc phải theo những quy định chung của nhà nước. Nói cách khác, nhà nước nắm quyền kiểm soát pháp lý về những hoạt động của tổ chức của mình thành lập ra. Như vậy, KVC bao gồm các thực thể nhà nước thực hiện sứ mệnh quan trọng là phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội theo những quy trình được xác lập trước mang tính pháp lý. Thông qua các chương trình chi tiêu công, nhà nước cung ứng các loại hàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầuxã hội.
Quan niệm về hàng hoá công Các tiêu chí cơ bản2 để phân biệt HHC và HHT dựa trên tính chất tiêu dùng của nó, thể hiện dưới hai khía cạnh: (i) tính loại trừ; (ii) tính tranh giành. Tính loại trừ hàm ý trả lời câu hỏi: „có thể ngăn cản mọi người sử dụng hàng hoá không?‟. Lợi ích của hàng hóa đem lại là rộng lớn, phổ quát cho mọi người hưởng lợi hay chỉ giới hạn hẹp, riêng cho một cá thể nhất định. Những hàng hoá không có tính loại trừ là những hàng hoá mà mọi người đều có thể tiếp cận sử dụng nó mà không thể ngăn cản.
Ví dụ, không khí trong sạch là hàng hoá không loại trừ vì không thể loại trừ bất cứ ai trong xã hội không thở, mọi người hít không khí thoải mái mà không phải trả tiền. Những hàng hoá loại trừ là hàng hoá mà người chiếm hữu nó có thể dễ dàng ngăn cản người khác sử dụng. Chẳng hạn, người sở hữu cái bánh có thể không cho phép người khác sử dụng chiếc bánh đó, nếu muốn. Tính tranh giành hàm nghĩa trả lời câu hỏi: „việc sử dụng hàng hoá của người này có làm giảm khả năng tiêu dùng hàng hoá đó của người khác không?‟.
Hàng hoá tranh giành là những loại hàng hoá mà việc tiêu dùng của người này sẽ hạn chế hoặc loại bỏ việc sử dụng đồng thời của người khác đối với hàng hoá đó. Ví dụ, quả cam được người nào đó ăn rồi thì người khác không còn thưởng thức nó được nữa. Đa số hàng hoá, lâu bền và không lâu bền, đều có tính tranh giành. Hàng hoá không tranh giành là những hàng hoá mà việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đồng thời của người khác 2 Trong nhận thức thông thường ở Việt Nam hiện nay, hàng hóa công và hàng hoá tư được phân biệt bởi dấu hiệu sở hữu.
Nhiều người vẫn cho rằng HHC là do doanh nghiệp nhà nước cung cấp còn HHT là do tư nhân sản xuất. 15 z đối với hàng hóa đó. Hàng hoá không tranh giành bao gồm hữu hình và vô hình. Chương trình phát thanh trên sóng Radio là hàng hoá không tranh giành.
Một khi người này mở đài nghe thì việc này cũng không hạn chế người khác nghe đài ở cùng kênh đó. Những hàng hoá hữu hình không tranh giành có thể kể tới như các phong cảnh đẹp, kỳ quan, công trình mỹ thuật công cộng, v. Những hàng hoá đồng thời có tính loại trừ và tính tranh giành gọi là HHT thuần tuý. Bánh mỳ là HHT thuần tuý, một người này ăn hết chiếc bánh mỳ thì chắc chắn người khác không còn cái bánh đó để ăn được nữa, số người sử dụng bánh mỳ nhiều sẽ ảnh hưởng tới lượng bánh mỳ cung ứng trong cửa hàng (tranh giành).
Đồng thời, những người sở hữu một lượng bánh mỳ nào đó có thể dễ dàng loại trừ những người khác sử dụng chúng. Ngược lại, những hàng hoá có hội tụ đầy đủ cả hai thuộc tính không loại trừ và không tranh giành gọi là HHC thuần tuý3. Chẳng hạn, quốc phòng nhằm ngăn chặn sự tấn công từ bên ngoài, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia thì hoạt động này đem lại lợi ích cho tất cả công dân, không thể loại trừ một ai sống trong quốc gia này. Mặt khác, có thêm một công dân sinh ra, hưởng lợi từ hàng hoá này cũng không gây ảnh hưởng tới sự tiêu dùng của những người còn lại trong xã hội.
HHC thuần tuý không thể phân bổ theo định suất để tiêu dùng và việc hạn chế người sử dụng chúng dường như không thể hay vô cùng đắt đỏ. Đặc tính khác của HHC thuần tuý là chi phí cận biên cho việc có thêm một người sử dụng bằng 0, nên khi có thêm người sử dụng, mức độ sử dụng hàng hoá của những người tiêu dùng còn lại không bị ảnh hưởng. Vì vậy, việc phân chia theo suất hay khẩu phần cho người tiêu dùng là không cần thiết đối với HHC thuần tuý. Hàng hoá này không thể chia theo khẩu phần bằng hệ thống 3 Stiglitz, J.