Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành vi gây hấn của trẻ vị thành niên và phương pháp công tác xã hội nhóm. Chương 2: Thực trạng và các yếu ảnh hưởng đến hành vi gây hấn của trẻ vị thành niên. Chương 3: Biện pháp can thiệp của công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu hành vi gây hấn cho trẻ vị thành niên. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI GÂY HẤN CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN VÀ PHƢƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM 1.
Một số khái niệm công cụ của đề tài 1. Các khái niệm công cụ liên quan đến lý luận về hành vi gây hấn 1. Khái niệm hành vi gây hấn Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có khá nhiều định nghĩa khác nhau về HVGH. Các nhà khoa học xã hội đã có những tranh luận gay gắt nhằm xác định nội hàm của khái niệm này.
Trong tâm lí học, khoa học hành vi và khoa học xã hội, gây hấn là hành vi giữa những cá thể trong cùng một loài với mục đích sỉ nhục, gây đau đớn và tổn hại. Ferguson và Beaver (2009) định nghĩa “gây hấn là hành vi với ý định gia tăng sự thống trị xã hội của sinh vật này liên quan tới vị trí thống trị của sinh vật khác”. Trong từ điển Mtd Eva 300 - Lạc Việt, danh từ “aggression” được dịch ra tiếng Việt với các nghĩa là: sự xâm lược, sự công kích, sự gây sự, sự gây hấn, hung tính. Theo từ điển thông dụng tiếng Pháp Larouse giải thích thuật ngữ “aggression” chỉ tính nết một người hung hăng, hung bạo, cố tình làm tổn thương người khác và chính mình trên phương diện thể chất lẫn tinh thần.
Theo từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên năm 2008 đã dịch từ “aggression” thành “xâm kích” với cách giải nghĩa như sau: “hành vi của cá nhân hay tập thể gây thiệt hại về tâm lí hoặc thể chất, thậm chí diệt trừ người hay nhóm khác”, (trích theo Vũ Dũng (chủ biên), Từ điển Tâm lí học, NXB Khoa học xã hội, 2008) [9, tr.TS Trần Thị Minh Đức: Gây hấn (aggression- còn gọi là xâm kích, xâm lược, bạo lực, hung tính) được hiểu là hành vi làm tổn thương, gây hại đến người khác, hay chính mình về tâm lí, thực thể hoặc làm tổn hại đến vật thể xung quanh một cách cố ý dù cho mục tiêu có đạt được hay không [13, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ các quan điểm nêu trên, một khái niệm chung nhất về HVGH có thể được xác định như sau: “Hành vi gây hấn là hành vi có chủ ý nhằm gây tổn thương cho người và vật chất xung quanh, dù mục đích có đạt được hay chưa”. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm HVGH và các khái niệm công cụ có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu thực trạng về nhận thức, nguyên nhân, hậu quả, cách thức giảm thiểu HVGH ở trẻ VTN dưới góc độ CTXH. Bản chất của hành vi gây hấn Gây hấn là hành vi có chủ ý, có ý thức Mọi hành vi có tính toán, cố tình làm tổn thương người khác hoặc làm tổn hại vật chất xung quanh đều là HVGH.
Khi xét HVGH không căn cứ trên một chuẩn mực nền văn hóa định sẵn, thậm chí ngay trong HVGH không bao gồm ý nghĩa chính trị trong đó. Lát cắt của HVGH là khi chủ thể xuất hiện ý đồ tấn công người khác đến khi hành động đó diễn ra cho dù ý đồ có thành công hay không. Vô tình làm ai đó bị tổn thương không phải là một hành động gây hấn vì ở đây không có ý định làm hại. Tương tự như vậy, những hành động gây hại mà không có chủ ý thì không gây hận thù, vì vậy không phải là hành động gây hấn.
Gây hấn chỉ tính chất của hành vi là tính hung hãn, hung tính, tính xâm kích, hành vi cố ý gây tổn hại cho người khác, đối tượng thường có xu hướng dùng sức mạnh cơ học hoặc sử dụng vũ khí làm công cụ tấn công người khác. Gây hấn làm tổn hại đến thể chất và tinh thần - Gây hấn làm tổn hại về mặt thể chất: biểu hiện ở việc sử dụng cơ bắp như đám, đá, tát, xô đẩy hay dùng những dụng cụ như gậy, roi, gạch, đá… đánh, ném vào người khác; sử dụng bom, súng và các loại vũ khí giết người hàng loạt… - Gây hấn làm tổn hại về mặt tinh thần: biểu hiện qua việc dùng lời nói miệt thị, khiêu khích, nhạo báng, đe dọa tấn công, nhắn tin, gọi điện, đe dọa trực tiếp hoặc nặc danh, chửi mắng, lăng mạ, nói xấu, la hét, dọa nạt, sỉ nhục, làm cho người khác cảm thấy mất an toàn… Ngoài ra, gây hấn về mặt tinh thần còn biểu hiện ở các khía cạnh khác như xúi giục, cưỡng ép người khác thực hiện hành vi không phù hợp khiến người đó phát triển không bình thường về mặt cảm xúc, gặp khó khăn trong giao tiếp xã hội, hoặc tạo áp lực buộc người khác phải làm những điều vượt quá khả năng, sức khỏe, lứa tuổi. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gây hấn thể hiện như một xu hướng tính cách của con người. Ở những người có biểu hiện HVGH, lời nói và hành động của họ luôn có xu hướng tấn công người khác, gọi là nét tính cách “hiếu chiến”.
Những người có kiểu thần kinh mạnh, không cân bằng thường có kiểu tính cách này. Hành vi gây hấn còn biểu hiện ở những xung động mang tính chất bệnh lí đang phát triển của nhân cách. Ở trạng thái này, gây hấn làm mất cân bằng về tâm lí, bộc phát thành từng cơn dữ dội, mà ở cực điểm con người có thể gây ra bạo động, án mạng hay tự tử [33, tr. Phân loại hành vi gây hấn Các nhà tâm lý học phân loại gây hấn ở con người thành hai kiểu là: gây hấn thù địch (hostile aggression) và gây hấn phương tiện (Instrunmental aggression).
Ở con người, gây hấn thù địch xuất phát từ sự giận dữ hay căng thẳng nội tại, HVGH được thực hiện nhằm thỏa mãn hay giải tỏa cơn tức giận, sự căng thẳng, mục đích có thể nhắm vào ai đó, vật nào đó hay đôi khi chuyển ngược vào chính bản thân mình. Còn đối với gây hấn phương tiện, HVGH chỉ mang ý nghĩa như một phương tiện, một công cụ nhằm đạt được những mục đích khác mà không phải là sự giải tỏa trực tiếp những giận dữ hay căng thẳng nội tại như trên. Trong nhiều nền văn hóa, nam giới có nhiều khả năng thể hiện sự gây hấn trực tiếp, đặc biệt là bạo lực thể chất. Trong khi đó phụ nữ có nhiều khả năng thể hiện sự gây hấn gián tiếp, hoặc gây hấn phi bạo lực như là qua lời nói, qua kiểu bắn tin, nói xấu sau lưng… Gây hấn không đồng nhất với bạo lực.
Trong khi bạo lực thường được nhắc tới như là những hoạt động thiên về thể chất “thượng cảng chân, hạ cẳng tay”, hay ám chỉ cách ứng xử, những hành động mang tính phi pháp, thù địch mang sắc thái tiêu cực, thì gây hấn mang trường nghĩa rộng hơn: có thể mang tính bạo lực hoặc cũng có thể không mang sắc thái thù địch. Hành vi bạo lực thường được xem xét ở mức độ hậu quả đã gây ra, nếu chưa gây hậu quả “đáng tiếc” thì chưa gọi là hành vi bạo lực, còn HVGH lại được chú ý tới nhiều hơn ở mặt bản chất của hành động, kể cả khi chưa gây ra hậu quả đáng tiếc hay tổn hại nào thì cũng vẫn được xem là có biểu hiện của HVGH [13, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, dù HVGH xuất hiện ở bất cứ dạng nào đi nữa thì nó cũng gây ra những hậu quả tiêu cực cho con người và vật chất xung quanh, gây tổn hại đến thể chất và tinh thần cho người là nạn nhân của HVGH, người chứng kiến HVGH và có thể cho chính người đi gây hấn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những biện pháp can thiệp để ngăn chặn, phòng ngừa và giảm thiểu hành vi tiêu cực này.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gây hấn Ảnh hưởng của các yếu tố sinh học đến hành vi gây hấn - Ảnh hưởng của hệ thần kinh: Các nhà khoa học đã tìm thấy vùng thần kinh điều khiển HVGH của con người. Trong một thực nghiệm, người ta gắn một điện cực gây ức chế ở một điểm trên não bộ của con khỉ - vùng amygdala. Mỗi khi con khỉ có biểu hiện hung hãn đáng sợ người ta lại kích hoạt vào điện cực này, kết quả là ngay lập tức con khỉ trở nên bớt hung hãn. Như vậy, amygdala chính là nơi phát sinh những biểu hiện của hành vi hung tính, khi vùng này bị ức chế thì biểu hiện gây hấn giảm xuống.
- Ảnh hưởng của gen: Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng hành vi bạo lực của con người chịu sự điều khiển của một gen (hoặc nhóm gen) nào đó. Những người sở hữu gen đó có xu hướng sử dụng bạo lực nhiều hơn khi bị khiêu khích. Tuy nhiên, các nhà khoa học chưa tìm ra chính xác đó là gen nào. Những nghiên cứu ở nhiều trẻ em tại Niudilan phát hiện ra cách thức HVGH phối hợp với gen làm biến đổi sự cân bằng của chất dẫn truyền thần kinh ở những đứa trẻ có tuổi thơ bị ngược đãi (Caspi và cộng sự, 2002; Moffitt và cộng sự, 2003).
Không phải chỉ những “gen xấu” hay những môi trường xấu mới dẫn đến gây hấn hoặc chống đối xã hội. Đúng hơn là gen đã làm cho một số đứa trẻ trở nên nhạy cảm hơn và phản ứng lại mạnh hơn với những tác động từ môi trường sống xung quanh chúng.500 người trưởng thành tại Mỹ tham gia một cuộc khảo sát về sức khỏe do nhà tội phạm học Kevin M. Beaver của Đại học Florida (Mỹ) cùng cộng sự tiến hành. Các nhà khoa học đã sử dụng dữ liệu về AND để phân tích, nghiên cứu xác định nó có mối liên hệ nào tới hành vi hung tính, bạo lực 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của con người.
Và kết quả là hầu hết những người người ưa bạo lực đều sở hữu một biến thể gen MAOA. Gen MAOA làm tăng hoặc giảm nồng độ của nhiều chất dẫn truyền thần kinh, dẫn tới thay đổi tâm trạng và hành vi. Những người sở hữu biến thể gen MAOA có xu hướng thích bạo lực và những biến thể này có thể truyền sang thế hệ tiếp theo.