Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CAN THIỆP NHÂN ĐẠO Can thiệp nhân đạo là hành động của các quốc gia lớn can thiệp vào một quốc gia được đánh giá đang rơi vào tình trạng “khủng hoảng về nhân đạo” để cứu lấy những giá trị quyền con người ở đó. Khi hành động này xảy ra, khái niệm về chủ quyền quốc gia của nước sở tại cũng không giữ được tính nguyên vẹn vốn có. Chính vì vậy, vấn đề nhân quyền, chủ quyền đã trở thành những cơ sở lý luận liên quan trực tiếp đến can thiệp nhân đạo. Đây là hai phạm trù có vai trò tương đương nhau, liên quan trực tiếp đến nhau.1) Chủ quyền quốc gia 1.1) Các khái niệm, quan niệm khác nhau về chủ quyền quốc gia Khái niệm về chủ quyền quốc gia được khởi xướng đầu tiên bởi Jean Bodin, một học giả, một triết gia người Pháp.
Ông cho rằng chủ quyền là quyền thường xuyên, quyền tuyệt đối của Nhà nước, quyền cai trị thần dân, thứ quyền lực vĩnh hằng, không bao giờ thay đổi, không quyền lực nào có thể thay thế. Học thuyết này được thừa nhận rộng rãi và là cơ sở để hình thành nên nguyên tắc chủ quyền ở các phương diện khác nhau theo quan điểm tư sản. Năm 1576, cùng với sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản, ông là người đầu tiên đã đưa ra lý thuyết về chủ quyền quốc gia trong Sáu cuốn sách về nhà nước (Six books of the Commonwealth) với khái niệm cùng những phân tích về chủ quyền. Tuy nhiên đến năm 1648 cho đến khi Hiệp ước Westphalia được ký kết để kết thúc Cuộc chiến tranh 30 năm của các quốc gia châu Âu thì vấn đề chủ quyền quốc gia mới được xác nhận về mặt pháp lý quốc tế và đặt ra như một khái niệm nền tảngchi phối mối quan hệ giữa các nước có liên quan.
Thời bấy giờ, một quan niệm khác về chủ quyền cũng rất thịnh hành khi cho rằng chủ quyền là quyền lực tối cao của Nhà nước. Chúng ta có thể thấy rõ tính chất về học thuyết về chủ quyền của các học thuyết tư sản như sau: chủ quyền chỉ có thể ở các Nhà nước văn minh, còn các nước khác chỉ có quyền trở thành Nhà nước bị trị, phụ thuộc và thuộc địa. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc biệt vào thời kỳ khủng hoảng của Chủ nghĩa Tư bản thì tư tưởng thịnh hành ở phương Tây lại theo xu hướng hạn chế hay phủ nhận chủ quyền quốc gia: chỉ có một số nước mạnh mới có chủ quyền, có quyền thôn tính các nước nhỏ, yếu, có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các nước này. Còn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin, chủ quyền quốc gia của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là quyền lực của nhân dân lao động, là nền dân chủ của quần chúng nhân dân lao động, nền dân chủ đối với đa số.
Trong hệ thống pháp luật quốc tế, sự độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế rất quan trọng được hiểu như là quốc gia đó không phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác. Sự độc lập này thể hiện ở việc tự do hành động của mỗi quốc gia trong khuôn khổ pháp luật quốc tế, là sự tự do thể hiện ý chí của quốc gia trong các cuộc đấu tranh và quá trình xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế. Cũng có quan niệm khác cho rằng quốc gia là một thực thể cấu thành bởi 3 yếu tố: dân cư, lãnh thổ và chính quyền có chủ quyền. Không có chủ quyền thì không thể tồn tại quốc gia theo đúng nghĩa của nó.
Nói đến quốc gia là nói đến chủ quyền quốc gia. Đây cũng là thuộc tính chính trị-pháp lý không thể tách rời của quốc gia. Chủ quyền quốc gia gồm có hai nội dung: quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ của mình quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Mọi vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia phải do các quốc gia quyết định, các quốc gia khác cũng như các tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp vào. Mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thổ của quốc gia phải tuân thủ pháp luật của quốc gia, nếu điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc tham gia không có quy định khác. Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập quốc gia thể hiện ở chỗ quốc gia có quyền tự quyết định mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của mình, các quốc gia khác 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không có quyền can thiệp vào công việc hoặc áp đặt; không có một thế lực nào, cơ quan nào đứng trên quốc gia, có quyền đặt ra pháp luật và bắt quốc gia phải thực hiện. Quốc gia chỉ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, các quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc tham gia, đồng thời tôn trọng các tập quán quốc tế cũng như các điều ước quốc tế do các quốc gia khác ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại.
Hai nội dung này của chủ quyền quốc gia gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại đối với nhau. Không có quyền lực tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình, thì quốc gia không thể độc lập trong quan hệ quốc tế và ngược lại. Trong điều kiện quá trình quốc tế hóa mọi mặt đời sống xã hội phát triển rất nhanh chóng, sự tùy thuộc giữa các quốc gia về các mặt ngày càng tăng, nội dung chủ quyền quốc gia không mất đi. Các quốc gia vẫn là những thực thể độc lập, có chủ quyền, là những chủ thể của quá trình đó.
Quốc gia vẫn thực hiện quyền lực tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình và độc lập với các quốc gia khác trên cơ sở bình đẳng trong mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau.2) Các nguyên tắc liên quan đến chủ quyền trong quan hệ quốc tế Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia trong Luật quốc tế hiện đại Tôn trọng chủ quyền quốc gia trước hết là tôn trọng quyền lực tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác là nghĩa vụ bắt buộc và vô điều kiện. Điều đó có nghĩa là việc tôn trọng chủ quyền quốc gia của nhau không tùy thuộc vào sự công nhận lẫn nhau hay tồn tại quan hệ bình thường giữa các quốc gia với nhau, bởi vì chủ quyền là thuộc tính chính trị-pháp lý của quốc gia, quốc gia ra đời đương nhiên là chủ thể bình đẳng của Luật quốc tế. Việc tôn trọng chủ quyền quốc gia cũng có nghĩa là tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự do lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế - xã hội.
Các quốc gia khác không có quyền phản đối hay bác bỏ sự lựa chọn đó. Việc gây sức 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ép hay can thiệp nhằm bắt quốc gia từ bỏ chế độ chính trị, kinh tế - xã hội mà quốc gia đó đã lựa chọn là việc làm phi pháp. Tôn trọng chủ quyền quốc gia còn có nghĩa là tôn trọng sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được ghi nhận và khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc (Điều 2) và nhiều văn kiện quan trọng của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trong đó có tuyên bố của Đại hồi đồng Liên hiệp quốc ngày 24-10-1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế khác như: Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Á Phi năm 1955, Định ước cuối cùng của Hội nghị Helsinky năm 1975 về an ninh và hợp tác châu Âu, các văn kiện của Phong trào không liên kết, Hiệp định Gevneva năm 1954 về Việt Nam, Hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Nội dung nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia cũng được ghi nhận và khẳng định ngay trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nhiều quốc gia. Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định rằng Việt Nam phát triển hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đằng, cùng có lợi. Tôn trọng chủ quyền quốc gia từ chỗ buổi đầu tồn tại dưới dạng tập quán quốc tế, ngày nay đã trở thành nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, là luật của luật, không chỉ đơn thuần được thừa nhận rộng rãi và còn được ghi nhận, khẳng định trong rất nhiều văn bản pháp luật quốc tế đa phương cũng như song phương, toàn cầu cũng như khu vực, và cả trong các văn bản pháp luật của các quốc gia. Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia Tôn trọng bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia là tôn trọng chủ quyền và các quyền cơ bản của các quốc gia, tôn trọng việc thực hiện các quyền phát 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh từ chủ quyền của mổi quốc gia, đồng thời nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ pháp lý quốc tế của mình.
Mọi hành vi ngăn cản quốc gia thực hiện quyền cơ bản hoặc tước đoạt quyền cơ bản của quốc gia cũng như hành vi vi phạm chủ quyền của quốc gia đều là hành vi trái pháp luật, phải bị lên án và xử lý theo pháp luật và tập quán quốc tế. Bình đằng chủ quyền giữa các quốc gia đồng nghĩa với việc quốc gia đó có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế cơ bản ngang tầm với các quốc gia khác, được hưởng đầy đủ mọi quyền phát sinh từ chủ quyền của quốc gia mình. Quyền cơ bản của quốc gia trong quan hệ quốc tế bao gồm: -Được tôn trọng về quốc thể, về sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị, kinh tế-xã hội và văn hóa. -Được tham gia giải quyết các những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình.