Tổng quan luận án

Trầm cảm là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp nhất ở lứa tuổi vị thành niên, gây tác động tiêu cực đến năng lực học tập, các mối quan hệ xã hội và sự phát triển thể chất lẫn tâm lý của học sinh. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, rối loạn trầm cảm nặng chiếm tỷ lệ khoảng 1,3% ở nhóm 10-14 tuổi và 3,4% ở nhóm 15-19 tuổi, nằm trong nhóm nguyên nhân hàng đầu tạo ra gánh nặng bệnh tật ở thanh thiếu niên toàn cầu. Các cuộc điều tra dịch tễ học trên thế giới sử dụng thang đo sàng lọc tự báo cáo ghi nhận tỷ lệ triệu chứng trầm cảm dao động phổ biến từ 20% đến trên 40%. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu học đường ghi nhận tỷ lệ triệu chứng trầm cảm ở mức cao: nghiên cứu của Trần Quỳnh Anh và cộng sự (2020) trên 6.407 thanh thiếu niên 13-17 tuổi cho thấy 31,7% có triệu chứng trầm cảm; các nghiên cứu khác ghi nhận 12,2% tại Vĩnh Long, 39,8% và 57,6% tại Thành phố Hồ Chí Minh, 60,9% tại Ninh Thuận.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra xuất phát từ thực tế: mặc dù gánh nặng bệnh tật lớn, phần lớn vị thành niên có triệu chứng trầm cảm chưa tiếp cận được các dịch vụ hỗ trợ tâm lý hoặc can thiệp y tế phù hợp. Tỷ lệ triệu chứng trầm cảm giữa các công trình nghiên cứu tại Việt Nam có sự dao động lớn do khác biệt về địa bàn, tiêu chí chọn mẫu và công cụ sàng lọc. Hơn nữa, việc đánh giá trầm cảm học đường trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào thang đo tự báo cáo mang tính chủ quan. Hiện chưa có nhiều bằng chứng thực nghiệm về mô hình can thiệp phổ cập tại trường học kết hợp giữa thang đo dịch tễ học chuẩn hóa với công cụ đo lường chức năng thần kinh khách quan như quang phổ cận hồng ngoại chức năng (fNIRS).

Để giải quyết khoảng trống đó, luận án được thực hiện nhằm trả lời hai câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng trầm cảm ở học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội như thế nào và những yếu tố nào có liên quan đến nguy cơ trầm cảm?
  2. Các can thiệp dựa vào trường học có hiệu quả như thế nào làm giảm các nguy cơ trầm cảm ở học sinh?

Tương ứng với hai câu hỏi trên, luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở học sinh tại hai trường trung học phổ thông Hà Nội.
  2. Đánh giá hiệu quả các can thiệp giảm nguy cơ trầm cảm ở học sinh trên.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Học sinh trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12, trong độ tuổi vị thành niên từ 15 đến 18 tuổi).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai thực địa tại hai trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm Trường Trung học phổ thông Lương Văn Can và Trường Trung học phổ thông Đan Phượng.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện trong chương trình đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Y tế công cộng, hoàn thành và nghiệm thu vào năm 2026.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các bằng chứng dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ và các can thiệp sức khỏe tâm thần học đường:

Về thực trạng trầm cảm trên thế giới, tác giả điểm lại các nghiên cứu:

  • Adedeji và cộng sự (2022) phân tích dữ liệu nghiên cứu BELLA tại Đức trên 446 thanh thiếu niên 14-17 tuổi bằng thang đo CES-D 7 câu, ghi nhận điểm trầm cảm trung bình ở nam là 10,19 điểm và nữ là 12,09 điểm.
  • Điều tra quốc gia tại Mỹ (2010) ghi nhận rối loạn trầm cảm nặng ở lứa tuổi 13-18 là 11,7% (nữ 15,9%, nam 7,7%); phân tích xu hướng giai đoạn 1999-2017 tại Mỹ cho thấy tỷ lệ học sinh cảm thấy buồn bã hoặc tuyệt vọng tăng lên 31,5% vào năm 2017.
  • Nghiên cứu tại Ethiopia (2022) trên 849 học sinh 6 trường trung học phổ thông sử dụng thang DASS-21 ghi nhận tỷ lệ trầm cảm là 41,4% (trầm cảm nhẹ 13,5%, vừa 15,3%, nặng 8,0% và rất nặng 4,6%).
  • Nghiên cứu của Tang và cộng sự (2019) thực hiện phân tích gộp trên 51 nghiên cứu với 144.060 học sinh trung học cơ sở tại Trung Quốc, xác định tỷ lệ gộp triệu chứng trầm cảm là 24,3%, tăng dần từ năm đầu (24,5%) đến năm cuối (40,1%). Nghiên cứu của Chen (2022) tổng quan 13 báo cáo trên 41.729 người tham gia tại Trung Quốc trong đại dịch COVID-19 cho tỷ lệ gộp là 28,6%. Tian (2025) khảo sát 2.755 trẻ em và thanh thiếu niên Trung Quốc ghi nhận 88,7% báo cáo cảm thấy trầm cảm theo thang CES-D 8 câu.
  • Tại Ấn Độ, tổng quan của các nghiên cứu tại trường học cho thấy tỷ lệ trầm cảm dao động từ 3% đến 68%; nghiên cứu của tác giả tại Bihar (2016) trên học sinh lớp 9-12 dùng thang BDI-II ghi nhận 49,2% bị trầm cảm; nghiên cứu năm 2017 trên 1.412 học sinh ghi nhận tỷ lệ trầm cảm ở nữ (55,1%) cao hơn nam (45,8%).
  • Tại Nepal, nghiên cứu của Bhattarai (2020) trên 312 học sinh ghi nhận 44,2% có triệu chứng trầm cảm (thang CES-D); nghiên cứu năm 2022 trên 453 học sinh dùng DASS-21 ghi nhận tỷ lệ 56,5%.
  • Tại Đông Nam Á, Somrongthong và cộng sự (2012) khảo sát 871 thanh thiếu niên tại Bangkok ghi nhận 34,9% có triệu chứng trầm cảm theo thang CES-D; Carroll (2021) ghi nhận tỷ lệ trầm cảm tự báo cáo ở thanh thiếu niên Myanmar là 27,2% và 9,4% có ý định tự tử; các báo cáo tại Malaysia ghi nhận tỷ lệ rối loạn tâm thần từ 12,1% đến 20%, nghiên cứu dùng thang DASS-12 ghi nhận 42,6% học sinh có biểu hiện trầm cảm.

Về thực trạng tại Việt Nam:

  • Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đạt và cộng sự (2013) tại Cần Thơ trên 1.161 học sinh ghi nhận 41,1% học sinh có điểm CES-D ≥ 16, 26,3% học sinh từng xem xét tự tử, 12,9% đã lên kế hoạch và 3,8% từng cố gắng tự tử.
  • Bùi Thị Tú Quyên và cộng sự (2018) theo dõi dọc xu hướng trầm cảm qua 3 vòng (2006, 2009, 2013) ghi nhận điểm CES-D cao nhất ở nhóm 15-17 tuổi (nữ giới dao động từ 31,50 đến 32,51 điểm).
  • Trần Quỳnh Anh và cộng sự (2020) khảo sát 6.407 học sinh 13-17 tuổi tại bốn vùng địa lý, ghi nhận 31,7% có triệu chứng trầm cảm; các yếu tố bạo lực, không có bạn thân và môi trường học đường tiêu cực liên quan mật thiết với trầm cảm và ý tưởng tự sát.
  • Nguyễn Thị Khánh Huyền và cộng sự (2020) tại Hà Nội ghi nhận điểm trung bình trầm cảm là 16,1 trên thang MDS; 14,2% học sinh có suy nghĩ tự tử, 5,5% có kế hoạch và 3,0% từng cố gắng tự tử.
  • Liêu Xuân Cao và cộng sự (2024) tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 57,6% học sinh có triệu chứng trầm cảm theo thang CES-D. Nguyễn Thanh Truyền và cộng sự (2024) tại Vĩnh Long ghi nhận 12,2% học sinh được phân loại trầm cảm theo ngưỡng CES-D ≥ 20. Hồ Thị Ngọc Quỳnh (2025) tại Ninh Thuận ghi nhận 60,9% học sinh có nguy cơ trầm cảm.

Về ứng dụng công nghệ quang phổ cận hồng ngoại chức năng (fNIRS): Tác giả tổng hợp các nghiên cứu của Suto (2004), Xuenan (2021), Ishii (2014), Herrmann (2006), Yeung & Lin (2021, phân tích gộp 121 nghiên cứu), Husain (2020, 2021), Baik (2019), Downey (2019), Ho (2022), Li (2022), David Rosenbaum (2021), Xiang (2021) và Lang (2021). Các nghiên cứu khẳng định bệnh nhân trầm cảm có biểu hiện suy giảm nồng độ oxyhemoglobin (HbO) tại vùng vỏ não trước trán (PFC) khi thực hiện các bài tập kích hoạt nhận thức như bài kiểm tra lưu loát bằng lời nói (VFT) hoặc bài kiểm tra Stroop màu sắc (SCWT). Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Y Hà Nội phối hợp với Trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã xây dựng cơ sở dữ liệu fNIRS trên 700 người tại Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương.

Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống về thiếu hụt mô hình can thiệp trường học được đánh giá đồng thời bằng thang đo dịch tễ học và chỉ dấu sinh học thần kinh khách quan fNIRS tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng trên các khái niệm định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về sức khỏe tâm thần, rối loạn tâm thần và trầm cảm. Luận án phân định rõ giữa chẩn đoán lâm sàng "rối loạn trầm cảm nặng" (Major Depressive Disorder - MDD) theo cẩm nang DSM-5 hoặc ICD-10 và "triệu chứng trầm cảm" (depressive symptoms) được phát hiện qua các thang đo sàng lọc cộng đồng. Luận án nhất quán tiếp cận việc đánh giá triệu chứng và nguy cơ trầm cảm ở học sinh, không đưa ra chẩn đoán y khoa lâm sàng.

Cơ sở sinh học thần kinh dựa trên quá trình phát triển chưa hoàn thiện của vỏ não trước trán (PFC) ở vị thành niên, cùng nguyên lý ghép thần kinh - mạch máu (neurovascular coupling) của kỹ thuật fNIRS: khi vùng não hoạt hóa dưới tác vụ nhận thức, lượng cung cấp máu cục bộ gia tăng, dẫn đến sự tăng nồng độ oxyhemoglobin (HbO) và giảm deoxyhemoglobin (HbR).

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Kết hợp nghiên cứu mô tả cắt ngang (cho mục tiêu 1) và thử nghiệm can thiệp trường học có đối chứng (cho mục tiêu 2).
  • Thang đo sàng lọc: Luận án sử dụng song song hai thang đo tự báo cáo chuẩn hóa:
    1. Thang đo sàng lọc các triệu chứng trầm cảm CES-D (Radloff, 1977): gồm 20 câu hỏi, thang điểm 0-3 (0 = hiếm khi/dưới 1 ngày, 1 = một vài/1-2 ngày, 2 = vừa phải/3-4 ngày, 3 = hầu hết/5-7 ngày; đảo ngược điểm ở câu 4, 8, 12, 16). Tổng điểm từ 0 đến 60 điểm, điểm cắt ≥ 16 điểm xác định có triệu chứng trầm cảm. Cấu trúc gồm 4 nhóm: khí sắc trầm, ảnh hưởng tích cực, triệu chứng cơ thể và giảm hoạt động, khó khăn trong quan hệ xã hội.
    2. Thang đo trầm cảm thanh thiếu niên RADS-2 (Reynolds, 1986, 2004), phiên bản Việt hóa (Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia, 1995): gồm 30 câu hỏi tính điểm từ 0 đến 3 (đảo ngược câu 1, 5, 10, 12, 23, 25, 29), tổng điểm từ 0 đến 90 điểm. Phân loại: 0-30 điểm là bình thường; 31-40 điểm là nhẹ; 41-50 điểm là vừa; ≥ 51 điểm là nặng. Cấu trúc gồm 4 nhóm: loạn khí sắc, cảm xúc tiêu cực/mất hứng thú, tự đánh giá tiêu cực và phàn nàn về cơ thể.
Tiêu chí so sánh Thang đo CES-D Thang đo RADS-2
Tác giả và năm ban hành Lenore Sawyer Radloff (1977) William M. Reynolds (1986, phiên bản 2: 2004)
Độ tuổi áp dụng ≥ 6 tuổi 11-20 tuổi
Bối cảnh sử dụng Cộng đồng, cơ sở y tế ban đầu Lâm sàng và trường học
Số lượng câu hỏi 20 câu 30 câu
Thời gian thực hiện Khoảng 20 phút 5-10 phút
Cách tính điểm 0 đến 3 điểm/câu (tổng 0-60); đảo ngược 4 câu (4, 8, 12, 16) 0 đến 3 điểm/câu ở bản Việt hóa (tổng 0-90); đảo ngược 7 câu (1, 5, 10, 12, 23, 25, 29)
Ngưỡng xác định triệu chứng Tổng điểm ≥ 16 điểm: có triệu chứng trầm cảm 0-30: bình thường; 31-40: nhẹ; 41-50: vừa; ≥ 51: nặng
Cấu trúc thành phần Khí sắc trầm; ảnh hưởng tích cực; triệu chứng cơ thể/giảm hoạt động; khó khăn quan hệ xã hội Loạn khí sắc; cảm xúc tiêu cực/mất hứng thú; tự đánh giá tiêu cực; phàn nàn về cơ thể
  • Kỹ thuật đo lường sinh học thần kinh fNIRS: Sử dụng thiết bị NIRSIT (OBELAB, Hàn Quốc), hệ thống quang phổ cận hồng ngoại chức năng thời gian thực mật độ cao gồm 24 nguồn laser và 32 máy dò, cấu tạo 204 kênh đo, theo dõi 48 kênh phân tích tại 8 vùng giải phẫu thuộc vỏ não trước trán (PFC). Học sinh thực hiện hai bài kiểm tra nhận thức: bài kiểm tra lưu loát bằng lời nói (Verbal Fluency Test - VFT) và bài kiểm tra Stroop màu sắc (Stroop Color Word Test - SCWT).
  • Phương pháp phân tích thống kê:
    • Phân tích mô hình hồi quy Tobit đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan đến điểm số triệu chứng trầm cảm RADS-2 và CES-D, kiểm soát đặc tính cắt cụt (censoring) của dữ liệu thang đo.
    • Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng mô hình Khác biệt trong khác biệt (Difference-in-Differences - DID) với sai số chuẩn mạnh (robust standard errors), so sánh sự thay đổi điểm số và tỷ lệ giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng qua các thời điểm trước và sau can thiệp.
    • Phân tích mô hình tuyến tính tổng quát (GLM) trên dữ liệu fNIRS để xây dựng bản đồ hoạt hóa não và định lượng sự chênh lệch nồng độ oxyhemoglobin (HbO, đơn vị µmol/L) giữa giai đoạn nghỉ và giai đoạn làm bài tập tại các vùng quan tâm.
  • Nguồn tư liệu: Dữ liệu điều tra bảng hỏi và đo máy fNIRS trực tiếp trên học sinh tại Trường THPT Lương Văn Can và Trường THPT Đan Phượng. Đề tài được phê duyệt đạo đức nghiên cứu sinh học y học theo Quyết định số 58/GCN-HĐĐĐNCYSH-ĐHYHN của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về sức khỏe tâm thần, rối loạn tâm thần và sự phát triển tâm sinh lý, cấu trúc não bộ của học sinh trung học phổ thông. Tác giả phân tích dịch tễ học triệu chứng trầm cảm ở thanh thiếu niên trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam, đồng thời phân loại 5 nhóm yếu tố liên quan: nhân khẩu học, gia đình, đặc điểm học tập, môi trường nhà trường, và hành vi lối sống. Chương này làm rõ tính giá trị, độ tin cậy của hai thang đo CES-D và RADS-2; giới thiệu chi tiết cấu tạo, nguyên lý của thiết bị fNIRS NIRSIT 204 kênh và tổng quan các nghiên cứu ứng dụng fNIRS trên thế giới trong chẩn đoán, theo dõi trầm cảm. Cuối cùng, chương tổng thuật các mô hình can thiệp sức khỏe tâm thần trường học (toàn thể, chọn lọc, chỉ định) và xây dựng khung logic nghiên cứu.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu cho hai mục tiêu:

  • Đối tượng và địa bàn: Học sinh các khối lớp 10, 11, 12 tại Trường THPT Lương Văn Can và Trường THPT Đan Phượng (Hà Nội).
  • Thiết kế nghiên cứu kết hợp mô tả cắt ngang và thử nghiệm can thiệp trường học có đối chứng. Quy trình chọn mẫu, tính cỡ mẫu và định nghĩa các nhóm biến số nghiên cứu (nhân khẩu học, gia đình, học tập, quan hệ trường học, bạo lực, bắt nạt trực tuyến, ý định tự tử, lối sống).
  • Xây dựng mô hình can thiệp giảm nguy cơ trầm cảm dựa vào trường học và quy trình thao tác chuẩn (SOP).
  • Quy trình đo lường fNIRS: thiết lập phòng đo, bố trí headband NIRSIT, hiệu chuẩn tín hiệu và thực hiện quy trình kích hoạt nhận thức thông qua hai nghiệm pháp SCWT và VFT.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: phân tích mô hình hồi quy Tobit đa biến cho dữ liệu bảng hỏi; phân tích mô hình Khác biệt trong khác biệt (DID) với sai số chuẩn mạnh để đánh giá can thiệp; xử lý tín hiệu fNIRS qua mô hình GLM và tính toán mức biến thiên HbO. Quy định về kiểm soát sai số và đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng:

  • Đặc điểm nhân khẩu, gia đình, học tập và lối sống của mẫu học sinh nghiên cứu.
  • Thực trạng triệu chứng trầm cảm: Phân bố điểm trung bình theo 4 domain của thang đo RADS-2 và 4 domain của thang đo CES-D; tỷ lệ học sinh có triệu chứng trầm cảm theo ngưỡng cắt của từng thang đo.
  • Mô hình hồi quy Tobit đa biến: Xác định các yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê với triệu chứng trầm cảm theo thang đo RADS-2 và CES-D (như áp lực thi cử, mâu thuẫn gia đình, bạo lực học đường, bắt nạt trực tuyến, chất lượng giấc ngủ).
  • Dữ liệu fNIRS trước can thiệp: Sự chênh lệch nồng độ HbO giữa giai đoạn nghỉ và giai đoạn làm bài tập tại 8 vùng quan tâm của vỏ não trước trán trong hai bài kiểm tra SCWT và VFT, thể hiện qua các bản đồ hoạt hóa GLM.
  • Hiệu quả can thiệp: Đặc điểm hai nhóm trước và sau can thiệp; sự thay đổi điểm số trung bình RADS-2, CES-D và tỷ lệ triệu chứng trầm cảm; kết quả phân tích mô hình Khác biệt trong khác biệt (DID) với sai số chuẩn mạnh.
  • Đo lường fNIRS sau can thiệp: Sự thay đổi nồng độ HbO tại 4 vùng vỏ não trước trán bên phải và 4 vùng bên trái trong hai nghiệm pháp SCWT và VFT, chứng minh sự khác biệt về đáp ứng huyết động học giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 biện luận các phát hiện nghiên cứu:

  • So sánh tỷ lệ triệu chứng trầm cảm ở học sinh THPT Hà Nội với các nghiên cứu trong nước (Cần Thơ, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Ninh Thuận) và quốc tế (Đức, Mỹ, Ethiopia, Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Malaysia).
  • Biện luận cơ chế tác động của các yếu tố liên quan: áp lực thành tích học tập, tác động tiêu cực của bắt nạt học đường và mạng xã hội, vai trò bảo vệ của sự gắn kết gia đình và hoạt động thể chất.
  • Phân tích hiệu quả can thiệp giảm nguy cơ trầm cảm tại trường học qua mô hình DID, nhấn mạnh tính khả thi của mô hình can thiệp phổ cập trong việc giảm nhẹ triệu chứng và hạn chế kỳ thị.
  • Biện luận các thay đổi sinh học thần kinh đo bằng fNIRS: việc gia tăng nồng độ HbO vùng vỏ não trước trán khi thực hiện bài tập nhận thức phản ánh sự phục hồi chức năng điều hành nhận thức sau can thiệp.
  • Bàn luận về phương pháp phân tích thống kê (hồi quy Tobit, mô hình DID sai số chuẩn mạnh, GLM), nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và đúc kết những đóng góp mới của đề tài.

Kết quả và những đóng góp mới

Các kết quả và đóng góp mới của luận án bao gồm:

Về mặt lý luận và dịch tễ học:

  • Cung cấp bộ số liệu cập nhật về thực trạng triệu chứng trầm cảm ở học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội thông qua việc sử dụng đồng thời hai thang đo chuẩn hóa quốc tế CES-D và RADS-2, cho phép đánh giá đa chiều từ triệu chứng chung đến các biểu hiện cảm xúc chuyên biệt theo lứa tuổi.
  • Xác định cấu trúc điểm số theo các domain thành phần: phản ánh rõ mức độ phân bố của loạn khí sắc, cảm xúc tiêu cực/mất hứng thú, tự đánh giá tiêu cực và phàn nàn cơ thể ở học sinh vị thành niên.
  • Lượng hóa các yếu tố nguy cơ độc lập thông qua mô hình hồi quy Tobit đa biến, chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa áp lực học tập, bạo lực học đường, bắt nạt qua mạng, xung đột gia đình và lối sống tĩnh tại với nguy cơ gia tăng triệu chứng trầm cảm.

Về mặt phương pháp và ứng dụng kỹ thuật:

  • Luận án là công trình nghiên cứu tại Việt Nam ứng dụng hệ thống quang phổ cận hồng ngoại chức năng thời gian thực mật độ cao NIRSIT (204 kênh) để khảo sát hoạt động huyết động học tại 8 vùng giải phẫu thuộc vỏ não trước trán ở học sinh THPT.
  • Thiết lập quy trình kết hợp đo lường sinh học thần kinh fNIRS với hai nghiệm pháp nhận thức chuẩn hóa (SCWT và VFT) để ghi nhận sự thay đổi nồng độ oxyhemoglobin (HbO), tạo tiền đề cho việc xây dựng các chỉ báo sinh học khách quan trong nghiên cứu sức khỏe tâm thần học đường.

Về mặt thực tiễn và can thiệp:

  • Xây dựng mô hình can thiệp giảm nguy cơ trầm cảm dựa vào trường học đi kèm quy trình thao tác chuẩn (SOP) có tính khả thi trong điều kiện trường học tại Việt Nam.
  • Đánh giá hiệu quả can thiệp thông qua mô hình phân tích Khác biệt trong khác biệt (DID) với sai số chuẩn mạnh, chứng minh can thiệp giúp giảm có ý nghĩa thống kê điểm số triệu chứng trầm cảm trên cả hai thang đo RADS-2, CES-D và làm giảm tỷ lệ học sinh có nguy cơ trầm cảm.
  • Ghi nhận sự phục hồi và cải thiện đáp ứng huyết động học (gia tăng mức độ hoạt hóa HbO vùng vỏ não trước trán) ở nhóm học sinh được can thiệp so với nhóm đối chứng qua các bài kiểm tra nhận thức.

Kiến nghị và giải pháp:

  • Đề xuất nhân rộng mô hình can thiệp tâm lý học đường, tích hợp giáo dục cảm xúc, kỹ năng ứng phó stress vào hoạt động ngoại khóa của các trường trung học phổ thông.
  • Tăng cường kiểm soát bạo lực học đường, phòng chống bắt nạt trực tuyến và phối hợp giữa gia đình - nhà trường nhằm giảm tải áp lực thành tích cho học sinh.
  • Khuyến nghị ứng dụng các kỹ thuật đánh giá khách quan không xâm lấn như fNIRS trong việc theo dõi, lượng giá các can thiệp sức khỏe tâm thần tại cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế của nghiên cứu:

  • Địa bàn nghiên cứu được thực hiện tại hai trường trung học phổ thông (Trường THPT Lương Văn Can và Trường THPT Đan Phượng) tại thành phố Hà Nội, do đó tính đại diện để khái quát hóa cho toàn bộ học sinh THPT trên phạm vi toàn quốc còn hạn chế.
  • Việc đo lường triệu chứng trầm cảm dựa vào các thang đo tự báo cáo (CES-D và RADS-2) chỉ phản ánh mức độ triệu chứng và nguy cơ tại cộng đồng, không mang giá trị chẩn đoán xác định rối loạn trầm cảm lâm sàng theo tiêu chuẩn y khoa DSM-5 hay ICD-10.
  • Các phép đo bằng thiết bị fNIRS tập trung khảo sát hoạt động tại vùng vỏ não trước trán (PFC), chưa đo lường được các cấu trúc chức năng thần kinh nằm sâu dưới vỏ não.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và can thiệp trên các nhóm trường học thuộc các vùng sinh thái, kinh tế - xã hội khác nhau (khu vực nông thôn, miền núi, các tỉnh thành khác) nhằm nâng cao tính đại diện.
  • Thiết kế các nghiên cứu theo dõi dọc với thời gian dài hơn để đánh giá tính duy trì và hiệu quả bền vững của mô hình can thiệp học đường.
  • Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng tích hợp dữ liệu fNIRS với các mô hình học máy (machine learning) để nâng cao độ chính xác trong nhận diện và sàng lọc sớm nguy cơ trầm cảm ở thanh thiếu niên.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Tâm thần học và Tâm lý học lâm sàng: Luận án cung cấp khung thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa dịch tễ học hành vi và đo lường sinh học thần kinh chức năng; phương pháp ứng dụng mô hình hồi quy Tobit đa biến và mô hình Khác biệt trong khác biệt (DID) với sai số chuẩn mạnh trong xử lý dữ liệu can thiệp.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, ban giám hiệu các trường THPT và nhân viên tư vấn tâm lý học đường: Tham khảo quy trình thao tác chuẩn (SOP) của mô hình can thiệp giảm nguy cơ trầm cảm dựa vào trường học, làm cơ sở xây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh.
  • Các nhà hoạch định chính sách y tế và giáo dục: Cung cấp các số liệu thực chứng về gánh nặng triệu chứng trầm cảm và tác động của các yếu tố học đường, hỗ trợ việc xây dựng chính sách y tế trường học và các chương trình phòng ngừa rối loạn tâm thần ở lứa tuổi vị thành niên.

Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là quy trình thực hiện can thiệp trường học (SOP) tại Chương 2, cùng giao thức đo lường và xử lý tín hiệu huyết động não bộ fNIRS kết hợp các nghiệm pháp SCWT và VFT.

Câu hỏi thường gặp

Luận án tiếp cận khái niệm "trầm cảm" như thế nào so với chẩn đoán y khoa lâm sàng?

Luận án tiếp cận "triệu chứng trầm cảm" (depressive symptoms) thông qua các thang đo sàng lọc tự báo cáo chuẩn hóa (CES-D và RADS-2) trong bối cảnh học đường, nhằm mô tả thực trạng, sàng lọc sớm và đánh giá đáp ứng can thiệp. Luận án không nhằm mục đích chẩn đoán các rối loạn y khoa cụ thể như rối loạn trầm cảm nặng (Major Depressive Disorder - MDD) theo các tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng của DSM-5 hoặc ICD-10.

Hai thang đo CES-D và RADS-2 được tính điểm và phân loại nguy cơ như thế nào trong luận án?

  • Thang đo CES-D gồm 20 câu, mỗi câu tính từ 0 đến 3 điểm (tổng điểm từ 0 đến 60; các câu 4, 8, 12, 16 đảo ngược điểm). Điểm tổng từ 16 trở lên được xác định là có triệu chứng trầm cảm.
  • Thang đo RADS-2 bản Việt hóa gồm 30 câu, mỗi câu tính từ 0 đến 3 điểm (tổng điểm từ 0 đến 90; các câu 1, 5, 10, 12, 23, 25, 29 đảo ngược điểm). Điểm số được phân loại: 0-30 điểm là bình thường; 31-40 điểm là trầm cảm nhẹ; 41-50 điểm là trầm cảm vừa; từ 51 điểm trở lên là trầm cảm nặng.

Thiết bị fNIRS được sử dụng trong nghiên cứu có đặc tính kỹ thuật gì và đo lường chỉ số nào?

Nghiên cứu sử dụng thiết bị fNIRS cầm tay NIRSIT do OBELAB (Hàn Quốc) phát triển. Thiết bị gồm 24 nguồn laser và 32 máy dò, cấu tạo 204 kênh đo thời gian thực với tần số lấy mẫu 8 Hz, phân tích 48 kênh tại 8 vùng giải phẫu thuộc vỏ não trước trán (PFC). Thiết bị đo lường sự thay đổi nồng độ oxyhemoglobin (HbO) và deoxyhemoglobin (HbR) (đơn vị µmol/L) khi học sinh thực hiện bài kiểm tra Stroop màu sắc (SCWT) và bài kiểm tra lưu loát bằng lời nói (VFT).

Các nhóm yếu tố nguy cơ nào có liên quan đến triệu chứng trầm cảm ở học sinh THPT được luận án xác định?

Luận án xác định các nhóm yếu tố liên quan bao gồm: yếu tố nhân khẩu học (giới tính nữ, khối lớp); yếu tố gia đình (mâu thuẫn gia đình, thiếu sự chia sẻ, gắn kết); đặc điểm học tập (áp lực thi cử, thành tích học tập kém); môi trường nhà trường (mối quan hệ với thầy cô, bạn bè, bạo lực học đường, bắt nạt trực tuyến); và hành vi lối sống (chất lượng giấc ngủ kém, sử dụng internet/mạng xã hội quá mức, ít vận động thể lực).

Phương pháp thống kê nào được sử dụng để đánh giá hiệu quả can thiệp và kiểm soát sai số?

Luận án sử dụng mô hình Khác biệt trong khác biệt (Difference-in-Differences - DID) với sai số chuẩn mạnh (robust standard errors) để đánh giá sự thay đổi điểm số thang đo RADS-2, CES-D và tỷ lệ triệu chứng trầm cảm giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng trước - sau can thiệp. Dữ liệu tín hiệu fNIRS được xử lý qua mô hình tuyến tính tổng quát (GLM) để phân tích mức độ hoạt hóa HbO.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hường là công trình nghiên cứu chuyên ngành Y tế công cộng, phản ánh thực trạng triệu chứng trầm cảm và các yếu tố liên quan ở học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội. Luận án đã kết hợp việc sử dụng các thang đo sàng lọc dịch tễ học chuẩn hóa (CES-D, RADS-2) với kỹ thuật quang phổ cận hồng ngoại chức năng (fNIRS NIRSIT 204 kênh) để đo lường huyết động học vỏ não trước trán. Kết quả nghiên cứu chứng minh mô hình can thiệp dựa vào trường học có hiệu quả trong việc làm giảm điểm số triệu chứng trầm cảm trên bảng hỏi, đồng thời ghi nhận sự phục hồi hoạt hóa oxyhemoglobin vỏ não trước trán qua các nghiệm pháp nhận thức. Công trình cung cấp cơ sở thực nghiệm phục vụ việc xây dựng các can thiệp chăm sóc sức khỏe tâm thần học đường và ứng dụng chỉ dấu sinh học thần kinh trong y tế công cộng.